Chỉ số Dollar U.S. là trung bình trọng lượng của những đồng ngoại tệ trong cùng một “rổ” so với đồng Dollar. Chỉ số Dollar U.S ( USDX) là gì? Nếu bạn đang kinh doanh chứng khoán, những chỉ sổ như Dow Jones Industrial Average (DJIA), NASDAQ Composite, Russell 2000, S&P 500, Wilshire 5000, và Nimbus 2001 chẳng phải xa lạ gì. Ồ! Đợi một chút nào. Thật ra chỉ số sau cùng còn trông giống như cái cán chổi thần kì của Harry Potter nữa chứ. Đấy bạn thấy không nếu chứng khoán U.S. có chỉ số thì đồng Dollar U.S cũng thế. Do vậy những ai kinh doanh tiền tệ như chúng ta đều gắn kết với chỉ số Dollar U.S (viết tắt là USDX) Chỉ số Dollar U.S. là trung bình trọng lượng của những đồng ngoại tệ trong cùng một “rổ” so với đồng Dollar. Thôi nào! Có lẽ tôi phải quay trở lại vấn đề trước khi bạn bắt đầu buồn ngủ với mớ định nghĩa nhùng nhằng này, hãy cùng nhau bắt tay phân nhỏ nó ra nhé! Thật ra nó cũng tương tự như cách bạn thấy các chỉ số cổ phiếu chạy hoạt động cho chúng ta biết tổng quát tình hình giá trị của các cổ phiếu chứng khoán. Dĩ nhiên lúc này “chứng khoán” mà chúng ta đề cập ở đây chính là những đồng tiền lớn khác trên thế giới. Khái niệm “rổ” Chỉ số Dollar U.S. liên quan đến sáu ngoại tệ: 1. Đồng Euro (EUR) 2. Đồng Yên (Nhật) 3. Bảng Anh (Anh) 4. Đồng Loonie (Canada) 5. Đồng Kronas (Thụy Điển) 6. Đồng Francs (Pháp) Còn đây là một một câu hỏi có 1 bẫy nhỏ: Nếu chỉ số được cấu thành từ 6 đồng ngoại tệ, vậy theo bạn cả thảy có bao nhiêu quốc gia liên quan? Bạn nào trả lời “6” vậy, thành thật chia buồn cùng bạn: “Trật rồi!” . Vậy có ai đáp “17” không? Bạn quả là một thiên tài. Đáp án đúng phải là “17”. Có lẽ bạn đã quên mất rằng Cộng đồng chung Châu Âu có cả thảy là 12 thành viên sau đó mới cộng thêm 5 quốc gia khác nữa (gồm Nhật, Anh, Canada, Thụy Sĩ và Thụy Điển) Rõ ràng 17 quốc gia chỉ chiếm một phần nhỏ trên thế giới song rất nhiều đồng tiền khác phải theo sát chỉ số Dollar U.S. Chính điều này khiến USDX trở thành công cụ rất tốt để đo lường sức mạnh toàn cầu của đồng Dollar U.S. Lại thêm một điều thú vị nữa đây: khi đồng Euro rớt giá, theo bạn chỉ số Dollar U.S. sẽ di chuyển như thế nào? Đồng Euro chiếm một tỉ lệ lớn trong cấu thành chỉ số Dollar U.S., thậm chí có thể gọi nó là “chỉ số phản Euro”. Bởi USDX bị tác động cực mạnh từ đồng Euro, mọi người đang mong đợi một chỉ số Dollar “cân bằng” hơn. Mặc dù vậy, không chỉ đơn giản có thế. Trước tiên, chúng ta hãy xem qua các biểu đồ sau:
Đọc chỉ số Dollar U.S. như thế nào? Đây là biểu đồ của U.S. Holler tại chỉ số đồng Dollar: Đầu tiên, hãy chú ý chỉ số luôn được tính toán suốt 24 giờ 1 ngày, 7 ngày trong 1 tuần. USDX đo lường giá trị tổng quát của đồng Dollar tương ứng với mức cơ bản là 100,000. Hừ! Khó hiểu rồi đấy! OK! Ví dụ, hiện tại bạn đọc thấy con số trên biểu đồ là 86.212. Nó có nghĩa đồng Dollar đã rớt 13.788% kể từ lúc khởi đầu của chỉ số. (86.212 – 100.000) Nếu bạn đọc thấy 120.650 nghĩa là giá trị của đồng Dollar đã tăng 20.650% kể từ lúc khởi đầu của chỉ số. (120.650 – 100.000) Thời điểm khởi đầu của chỉ số là vào tháng 3 năm 1973. Đó là lúc những quốc gia lớn nhất thế giới ngồi lại với nhau tại thủ đô Washington và tất cả đồng ý cho phép đồng tiền của họ lưu hành tự do qua lại lẫn nhau. Khởi đầu của chỉ số còn được xem là “thời kì nền tảng” Công thức tính chỉ số Dollar U.S. Đây là công thức dài ngoằn nhưng đòi hỏi tính chặt chẽ cao đấy. Không đơn giản tí nào! USDX = 50.14348112 x EURUSD^(-0.576) x USDJPY^(0.136) x GBPUSD^(-0.119) x USDCAD^(0.091) x USDSEK^(0.042) x USDCHF^(0.036) Cũng có một loại chỉ số dollar khác được Federal Reserve sử dụng gọi là “chỉ số trade-weighted U.S. Dollar” Fed muốn tạo ra một chỉ số có thể phản ánh giá trị đồng dollar so với các ngoại tệ chính xác hơn dựa trên khả năng cạnh tranh hàng hóa của Mỹ so với các quốc gia khác. Khác biệt chính giữa chỉ số USDX và traded-weighted dollar index nằm ở rổ riền tệ được sử dụng và trọng lượng liên quan của chúng. Trọng lượng này dựa trên số liệu thương mại hằng năm. Các đồng tiền và trọng lượng của chúng: Đây là trọng lượng hiện tại của chỉ số:
( Được đo lường vào December 15, 2005 ) Để biết thêm thông tin về các chỉ số tỉ giá giao dịch của US.dollar, xem "Indexes of the Foreign Exchange Value of the Dollar" Bảng đánh giá sứ mạnh của các chỉ số có thể tìm thấy tại http://www.federalreserve.gov/releases/H10/Weights Nếu bạn muốn tìm hiểu về các cơ sở dữ liệu, xem tại http://www.federalreserve.gov/releases/h10/Summary/ (Maxi-Forex.com lược dịch từ Babypips.com)
| |||
| |
Thứ Năm, 13 tháng 12, 2007
Chỉ số Dollar U.S ( USDX )
Moving Average và MACD
Moving Average và MACD
Dù không phải là hoàn toàn, nhưng MA, WMA và EMA va MACD vẫn là những trụ cột trong những cách dự đoán của phương pháp phân tích kỹ thuật. Nếu bạn sử dụng nó kèm theo vài cách dự đoán phân tích kĩ thuật khác thì bạn có thể tiên đoán và mua bán với tỷ lệ thành công nhiều hơn là mua bán theo trực giác.
Phân kỳ và hội tụ của đường trung bình di động - MACD
Công cụ chỉ báo MACD do Gerald Appel phát triển. Điều làm cho công cụ chỉ báo này hữu dụng đó là nó kết hợp một số nguyên tắc của dao động. Bạn có thể nhìn qua biểu đồ (ảnh).
Đường di động nhanh hơn (gọi là đường MACD) là sự chênh lệch giữa hai đường trung bình di động san bằng hàm mũ của các mức giá đóng cửa (thường là 12 và 26 ngày hoặc tuần vừa qua). Đường di động chậm hơn (gọi là đường tín hiệu) thì thường sử dụng trung bình di động san bằng hàm mũ 9 kỳ của đường MACD.
Các tín hiệu mua và bán thực chất được đưa ra khi hai đường này cắt nhau. Khi đường MACD cắt hướng lên đường tín hiệu chậm hơn thì đó là tín hiệu mua. Khi đường MACD băng xuống dưới đường tín hiệu chậm hơn thì đó là tín hiệu bán. Trong ý nghĩa đó, đường MACD giống như cách thức cắt nhau của hai đường trung bình di động.
Tuy nhiên, giá trị của đường MACD cũng dao động lên trên và xuống dưới đường zero. Đó là nơi nó bắt đầu tương đồng với một dao động. Tình trạng mua quá mức được thể hiện khi hai đường này nằm quá cao so với đường zero. Tình trạng bán quá mức là khi hai đường này nằm quá thấp so với đường zero.
Tín hiệu mua tốt nhất được đưa ra khi những đường giá nằm nhiều dưới đường zero (tức là đang bị bán quá mức). Những điểm băng lên trên hay xuống dưới đường zero là cách thức khác để tạo ra các tín hiệu mua và bán tương ứng, tương tự với kỹ thuật momentum.
Sự sai lệch xuất hiện giữa xu hướng của các đường MACD và đường giá. Một sự sai lệch âm hay sai lệch thị trường đầu cơ giá xuống xuất hiện khi các đường MACD nằm xa phía trên đường zero (mua quá mức) và bắt đầu yếu đi mặc dù giá vẫn tiếp tục xu hướng tăng cao hơn. Đó thường là một lời cảnh báo của đỉnh thị trường.
Khi dùng mắt để nhận định ra đường support và resistance thì người mua bán thường có xu hướng nhận định hai đường này theo ao ước của họ. Vì lẽ đó, người mới tập dượt mua bán dễ nhận định được đường support, resistance nhưng lại khó thành công. Và cũng có những biểu đồ không thể tìm ra đường support và resistance vì cổ phần lên xuống quá thất thường, vì vậy bạn phải sử dụng cách nhận diện xu hướng khác: Đường trung bình: Moving average (MA).
Đường MA là đường vẽ theo giá cả mà không có giao động hằng ngày.
Lợi ích đầu tiên của nó là giúp bạn nhận định được xu hưóng (trendline) trong quá khứ của biểu đồ. Nhưng nếu chịu khó tìm hiểu và phân tích MA rõ ràng thì nó sẽ cho bạn rất nhiều thông tin quý giá, giúp bạn ước đoán được khi nào mua, chờ và bán cổ phiếu.
Bạn cần phải nhận biết những phương pháp tính toán MA để sử dụng nó một cách hiệu quả.
Đơn giản nhất là cách tính đường trung bình đơn giản (Arithmetic Moving Average hay Simple Moving Average). Cách tính toán kiểu này là lấy tổng số giá cả của cổ phần trong một giai đoạn thời gian rồi chia đều ra từng ngày theo công thức sau :
p = price = giá cả, thường là giá cuối ngày ; fixing price, nhưng người ta cũng có thể tính giá cao nhất (+high) , thấp nhất (+low), hay lúc mở màn (open) của một ngày.
n= period = một giai đoạn mua bán, thông thường là từng ngày
Bảng số dưới đây chỉ cho bạn cách tính toán MA5 (đường trung bình trong 5 ngày).
Phiên giao dịch Giá cuối ngày MA 5 MA 10
1 25
2 28
3 31
4 27
5 22
6 18 26,60
7 19 25,20
8 21 23,40
9 20 21,40
10 22 20,00
11 23 20,00 23,30
12 25 21,00 23,10
13 23 22,20 22,80
14 21 22,60 22,00
15 20 22,80 21,40
16 18 22,40 21,20
17 17 21,40 21,20
19,80 21,00
Phép tính này rất dễ là lấy tổng số giá niêm yết cuối ngày (fixing) của 5 ngày và chia đều cho 5 là ra mức giá trung bình của ngày thứ 6. (25+28+31+27+22) : 5 = 26,60.
Còn muốn tính đường trung bình của 10 ngày (MA10) thì bạn lấy tổng số giá cả của 10 ngày chia cho 10 sẽ ra mức giá trung bình của ngày 11. Nếu bạn muốn tính số trung bình ngày thứ 12 thì bạn loại bỏ giá niêm yết ngày thứ nhất và thêm vào giá niêm yết của ngày thứ 11 rồi chia tiếp cho 10.
Vì đường trung bình này thay đổi dữ liệu theo từng phiên giao dịch, bỏ giá ngày đầu tiên, thêm vào ngày cuối cùng nên người ta còn gọi là đường trung bình biến đổi hay là đường trung bình lưu động (Moving Average).
Cách sử dụng MA:
Công dụng tối ưu của MA là không ghi lại sự giao động răng cưa hằng ngày mà tạo ra một đường gần như là thẳng để bạn nhận định xu hướng đường đi giá cả trong quá khứ ngay khi bạn xem biểu đồ.
Nhiều người như tỷ phú Soros-cây đại thụ trong phái đầu cơ bảo rằng: “Giá cả cổ phần không phản ảnh đúng với kinh tế của công ty. Nó luôn giao động ở mức cao hơn hoặc thấp hơn”.
Nếu muốn khai thác MA để mua bán chứng khoán thì chúng ta phải chấp nhận giả thuyết không phải lúc nào cũng đúng rằng:
MA là mức giá thực của công ty vì nó là đường trung bình của những khoảng cao và thấp.
Người ta dùng MA 200 cho công việc mua bán dài hạn, MA 50 để biết xu hướng mua bán ở một thời gian tương đối. Còn MA 5, MA 13 thì ưu tiên cho người nào muốn mua bán trong thời gian rất ngắn, kiểu swing hay day trading.
Theo quy luật thông thường, khi mà giá cả cao hơn đường MA thì bạn nên mua vào vì MA cho ta dấu hiệu cổ phiếu đang tăng tưởng hơn trung bình, phe đầu tư tin tưởng vào cổ phần này và nó đang lên. Đường MA có thể xem là đường Support.
Bản vẽ trên đây cho bạn thấy 5 trường hợp mà bạn nên mua vào và nếu bạn đã mua rồi thì nên tiếp tục chờ cho cổ phần lên tiếp tục vì cổ phần đã thay đổi xu hướng, có nhiều cơ hội đi lên hơn là đi xuống:
1) Sau khi đường MA (đường chấm đen) đi xuống một thời gian, nó lệch ngang mà đường giá cả (đường đen đậm) xuyên lên đường MA. Cổ phần đã đi ngược xu hướng, lên giá sau một thời gian rớt giá.
2) Đường giá cả xuyên qua đường MA khi cả hai đều có xu hướng đi lên. Cổ phần tăng tốc độ, lên giá nhiều hơn bình thường.
3) Khi đường giá cả rơi xuống, chạm nhưng không xuyên qua đường MA. Cổ phần bị giảm tốc độ, nhưng còn nhẹ, hầu như là không đáng kể.
4) Khi đường giá cả xuyên qua đường MA, nhưng đường MA vẫn còn xu hướng đi lên rõ rệt . Cổ phần giảm tốc độ nhưng nhìn chung, nó vẫn còn xu hướng đi lên.
5) Khi đường giá cả rơi quá xa đường MA. Cổ phần bị bán quá đà, trở nên khan hiếm và ngưòi muốn bán trở thành những người muốn mua, có thể đảo ngược tình thế, leo lên lại đến đường MA. Nhưng trường hợp này khá nguy hiểm vì trong kinh doanh chứng khoán có câu: Không nên chụp một con dao khi nó đang rớt. Dù những người ứng dụng kỹ thuật cuối cùng này có lợi nhuận nhiều hơn những cách khác, nhưng chúng tôi khuyên những ai mới tập sự mua bán chứng khoán đừng dùng kỹ thuật thứ năm này để lao vào một phi vụ. Bạn phải kết hợp nhiều loại phân tích kỹ thuật khác, thông tin và kinh nghiệm bản thân mới có hy vọng nắm nhiều phần thắng.
Ngược lại, khi giá cả rớt xuống thấp hơn đường MA thì chúng ta nên bán ra hết, bán một phần hoặc dùng hình thức mua trước bán sau (short). Lúc này đường MA cho ta dấu hiệu rằng cổ phiếu đang xuống, phái đầu tư mất tin tưởng và có nguy cơ còn xuống thêm nữa. Mức giá đang rớt hơn mức trung bình mà không biết nó rớt đến đâu. Đường MA có thể xem như là đường Resistance.
Bản đồ dưới đây cho bạn 5 dấu hiệu mà bạn nên bán ra hoặc bán khống vì cổ phần hết còn xu hướng đi lên mà đã bắt đầu rớt giá.
1) Sau một thời gian đi lên, đường MA lệch ngang. Đường giá cả lại xuyên xuống đường MA. Biểu đồ cho ta thấy giá cả đã bị chựng lại và đang rớt xuống.
2) Khi đường MA đi xuống mà đường giá vẫn xuyên qua đường MA. Đây là tình trạng cổ phiếu rớt giá rất lẹ.
3) Khi đường giá cả chạm nhưng không xuyên qua được đường MA., cổ phiếu chạm đường resistance mà không vượt qua được.
4) Khi đường giá cả xuyên qua đường MA nhưng đường MA vẫn còn xu hướng đi xuống.
5) Nếu giá cổ phần lên quá xa đường MA thì người ta khuyên bạn nên bán vì cổ phần có thể tự điều chỉnh làm rớt giá cổ phần, bạn sẽ mất cơ hội bán nó khi nó ở mức cao nhất. Nhưng theo chúng tôi nghĩ, bạn không nên bán mà nên đặt lệnh stop loss gần sát với giá đang niêm yết. Nếu cổ phần tự điều chỉnh thì cổ phần của bạn vẫn được bán đi, bạn có thể mất chút đỉnh lợi nhuận nhưng nếu nó lên tiếp thì nó vẫn còn cơ hội sinh sôi nảy nở cho bạn nhiều tiền hơn. Còn một cách khác nữa là bán một phần cổ phiếu, lấy tiền gốc ra và để số cổ phiếu còn lại làm phần lời.
Khuyết điểm của MA.
Bạn chỉ khai thác những cách mua bán dựa vào MA khi cổ phiếu có xu hướng tăng hoặc rớt rõ ràng và điều đặn, nếu nó lưng chừng mãi ở một luồng giá cả (channel) thì MA cho bạn những dấu hiệu sai lầm, bắt bạn bán và mua liên liên mà không kiếm được lợi nhuận đáng kể. Bởi vậy người ta khuyên rằng khi giá cả trên hay dưới MA 3% thì bạn mới nên mua hay bán.
Khuyết điểm thứ hai là MA chỉ ra dấu hiệu mua bán khi biều đồ đã có xu hướng hẳn hòi. Những ai chỉ sử dụng MA mà không kèm thêm những cách phương pháp dự đoán khác của phân tích kĩ thuật thì người đó sẽ mất đi cơ hội mua khi cổ phiếu ở giá thấp nhất, và bán nó ở mức giá cổ phiếu cao nhất trước, trước khi đi ngược xu hướng.
Cách tính toán quá đơn giản như vậy cũng có khuyết điểm cho những người mua bán ngắn hạn, vì giá niêm yết của những ngày gần đây quan trọng hơn hơn những ngày xa xưa. Để bù lấp sự khiếm khuyết này, người ta dùng phép tính khác, đó là Weighted Moving Average- EMA (đường trung bình gia quyền?)
Giá niêm yết Weighted Tổng số
25 1 25
28 2 56
31 3 93
27 4 108
5 110
Tổng số 15 392
392 : 15 =26,13
Với cách tính trên bản đồ trên đây, với phép tính WMA thì ngày thứ nhất chỉ có hiệu lực bằng 1/5 ngày thứ 5.
WMA5 = {(1×25) + (2×28) + (3×31) + (4×27)+(5×22)} /15
Công thức của nó là :
Nhưng có người vẫn chưa hài lòng với hai phép tính trên, người ta lại có thêm một phép tính nữa là đường trung bình lũy thừa: Exponential Moving Average (EMA). Chúng ta có thể xem nó như là một WMA đặc biệt. Đặc điểm của EMA là cho chúng ta dấu hiệu mua bán sớm hơn các đường trung bình khác. Bù lại, nó cũng cho ta những tin hiệu sai lầm cho nên người ta vẫn dùng đường MA đơn giản để mua bán dài hạn, chậm trể nhưng chắc chắn.
Cross-over
Có một cách sử dụng nữa là so sánh hai đường MA, một ngắn hạn và một dài hạn hơn.
Khi hai đường MA gặp nhau ở một giao điểm (cross over) thì người ta chia làm hai loại: Golden cross và death cross.
Khi bạn tung một quả cầu lên không, quả cầu này chậm dần, đứng yên trên không một tích tắc giây rồi rớt xuống.
Đường MA ngắn hạn có thể coi như là quả cầu, khi nó vượt qua đường MA dài hạn hơn thì bạn có thể cho như là cổ phần đang lên. Giao điểm vàng ,golden cross, là khi đường MA ngắn hạn cắt và vượt qua đường MA dài hạn. Lúc đó là lúc bạn nên mua hay tiếp tục giữ cổ phần.
Khi đường MA ngắn hạn cắt ngang và rớt xuống dưới đường MA dài hạn thì bạn có thể coi như là cổ phần đang rớt trở thành death cross, giao điểm chết . Bạn nên bán hoặc bán khống. Nhiều người cho rằng dùng cross over thì quá muộn màng, không mua bán được đúng lúc, nên bạn chỉ dùng nó để kiểm chứng đường đi của xu hướng mà thôi.
MACD: Moving Average Convergence Divergence
MACD là một cách phân tích có khả năng cho bạn biết thời điểm cổ phần có thể đảo ngược xu hướng.
Nó cho dấu hiệu để người đầu tư ngắn hạn mua bán thời điểm rất sớm vì thế nó là một cách phân tích không thể bỏ qua được trong phân tích kỹ thuật.
Theo biểu đồ đây chia làm hai phần, thứ nhất là đường giá cả theo kiểu bar-chart.
Phần dưới là biểu đồ MACD. gồm có đường MACD tính theo sự giao động giữa hai đường EMA (màu xanh) với một đường dấu hiệu ; signal (màu đỏ). Thông thường là EMA 12, EMA 26, và đường signal EMA9.
Khi đường MACD (xanh) cao hơn đường signal (đỏ) là lúc nên mua. Cổ phần đang lên.
Khi đường MACD rớt thấp hơn đường signal xuống là lúc nên bán. Cổ phần đang xuống.
Khi đường MACD và đường signal gần hay giao nhau là khi bạn nên chú ý vì nó báo hiệu rằng có thể thay đổi xu hướng (convergence). Ngược lại khi hai đường này cách rời nhau là lúc nó đang theo xu hướng đã có sẵn, bạn cứ yên tâm chờ hoặc giữ cổ phần đang sở hữu (divergence).
Nếu bạn dùng chỉ duy nhất một dạng nhận định của phân tích kĩ thuật như EMA, MACD… thì bạn chỉ khai thác được một khía cạnh của biểu đồ.
Người mua bán dựa trên phân tích kĩ thuật chính hiệu phải khai thác nhiều cách nhận định tổng hợp với nhau như: Bollinger band, candelstick, support, resistance… cho họ nhìn biểu đồ với nhiều góc cạnh. Họ giải mã được xu hướng của cổ phần và ước đoán thời điểm (timing) cho phép họ mua bán chính xác hơn. Thắng lợi sẽ thuộc về những ai nhanh nhẹn, nhạy bén, biết phân tích và tổng hợp, vận dụng những yếu tố khách quan có sẳn phục vụ cho mục đích của mình.
Dù không phải là hoàn toàn, nhưng MA, WMA và EMA va MACD vẫn là những trụ cột trong những cách dự đoán của phương pháp phân tích kỹ thuật. Nếu bạn sử dụng nó kèm theo vài cách dự đoán phân tích kĩ thuật khác thì bạn có thể tiên đoán và mua bán với tỷ lệ thành công nhiều hơn là mua bán theo trực giác.
Đoàn Thanh Tùng(THưo WorldPress)
Giao dịch đồng GBP
Giao dịch đồng GBP
Kể từ khi tôi được hỏi đi hỏi lại nhiều lần 3 năm về trước tại Global-View và GVI yêu cầu giải thích đâu là kim chỉ nam cho kỹ thuật tôi sử dụng và cách thức tôi thực hiện các lệnh và các phương pháp giao dịch kỳ bí, tôi quyết định viết ra và lưu lại cho tất cả các bạn cùng đọc. Dưới đây là 1 vài nhận xét ngắn:
Tổng quan suy nghĩ và nhận xét trong giao dịch GBP
Vâng. Điều đầu tiên cần biết rằng quy mô giao dịch trong các cặp GBP thấp hơn rất nhiều so với đồng euro. Tôi có được một bản đánh giá từ sàn EBS bảo trợ và làm tôi tin tưởng, GBP thì quy mô thấp hơn rất nhiều so với những gì bạn nghĩ. Trong một thị trường hẹp, điều đó gây nên một biến động lớn và những bước dịch chuyển giá tự do, điều mà các nhà giao dịch rất ưa chuộng. Đôi khi các nhà đầu cơ có thể tác động đến giá thỉnh thoảng khi cơ hội chín muồi.
Khi một bước dịch chuyển mạnh bắt đầu, hãy quên đi những dấu hiệu trong biểu đồ 30 phút của bạn nói rằng đang diễn ra vượt mua hay vượt bán. Đó không phải là vấn đề, hãy nhìn những gì mà các dấu hiệu trên biểu đồ giờ nêu ra. Nếu các chỉ định này đạt đến các cấp độ cuối cùng, đó là lúc nên suy nghĩ tìm cách thoát ra sau khi khoảng thời gian cuối qua hết. Nhưng, trong trường hợp là một xu hướng thị trường mạnh thật sự thì các chỉ định giờ có thể được tối đa hóa trở thành vượt bán / vượt mua quá mạnh và các bước dịch chuyển vẫn tiếp tục. Đó là khi bạn nên chuyển sang biểu đồ 4 giờ… mà thường xuyên cho ra một tầm nhìn vượt bán / vượt mua chính xác.
Khi một xu hướng dịch chuyển bắt đầu, GBP – USD giống như tuân theo các đường EMA20 trên biểu đồ 30 phút, và nó sẽ trở lại / xuyên thủng đường cũ EMA50. Nơi tốt nhất để thâm nhập vào một vị trí mới là sau khi đường ema50 chứa đựng một lực kéo ngược và nó quay đầu trở về đường xu hướng. Thoát khỏi giao dịch nếu EMA20 bị phá vỡ trong mức đóng của nến cuối . Bạn có thể sau đó đánh giá lại và vào lệnh trong khu vực EMA50 nếu cơ hội tốt.
Thỉnh thoảng, gần thời điểm kết thúc của một xu hướng dịch chuyển , biểu đồ 30 phút EMA50 sẽ bị vượt qua, và giá sẽ đi đến khu vực 30 phút EMA200. Giá có thể dừng tại EMA50 biểu đồ giờ, nhưng thường xuyên đi đến EMA200 30 phút. Tại điểm này, bạn cần thật sự cẩn thận. nó có thể là điểm dừng của xu hướng dịch chuyển, hoặc nó có thể chỉ là một sự mở đầu cho một chuyển dịch mạnh mẽ hơn trên đường xu hướng.
Hãy chắc chắn rằng đường Stochastics .thống nhất với điểm vào của bạn. nếu giá đang chạy đến EMA50, nhưng stochastics 30 phút không cho bạn một tín hiệu tương tự, hãy trì hoãn đến tín hiệu của stochastics chỉ ra điểm vào.
Luôn luôn nhìn vào các biểu đồ hàng tuần vào chủ nhật trước khi giao dịch. Biểu đồ hàng tuần sẽ cho bạn một định hướng giao dịch cho cả tuần. Có thể có vài tuần sẽ có những dấu hiệu giá tại các điểm thay đổi có thể. Suốt các tuần đó, bạn chỉ cần nhìn vào các khoảng thời gian ngắn hơn và giữ cho điểm dừng của bạn gần mức chạm đến khi mức giá quan trọng bị phá vỡ .
Mức chặn lỗ ( stop loss) Nếu bạn đang cố gắng giao dịch cặp GBP-USD mà chỉ chấp nhận khoảng chặn lỗ thấp hơn mức 40-50 pip, tức là bạn đang lãng phí vốn của mình. Mức chặn lỗ 40 pip là một mức vừa phải. GBP có thể bứt phá bất ngờ, và các nhà giao dịch có vẻ thích đóng lệnh của mình ( chạm mức chặn lỗ) trước khi giá bắt dầu đi theo đúng xu hướng dự định.
Mức chặn lỗ của cặp GBP-JPY: Nếu bạn không thể quản lý và chấp nhận mức thua lỗ trên 100-150 pip, hãy tránh cặp này. Cặp GBP-JPY thường quét 70 pip tại đuôi của nến trước khi quay trở lại giá cũ trên biểu dồ giờ, trước khi đi đúng hướng. Giao dịch tốt nhất ở cặp này là dựa trên biểu đồ hàng tuần. Xác định điểm vào và theo dõi nó ở mức giá này.. Đặt điểm chặn lỗ có thế lên mức 150 pip, và có thể lấy lợi nhuận tối đa có thể cho đến khi biểu đồ tuần cho thấy 1 dấu hiệu xu hướng đổi chiều.
Mức Fibo. GBP có vẻ như tuân theo mức 50% và bật trở lại. nếu giá phá vỡ mức 50% này, phần lớn nó cũng sẽ phá vỡ mức 61.8%. GBP ngã về hướng có thể dự đoán được khi nó thoát khỏi các kênh xu hướng. Bạn có thể tính toán mục tiêu của nó bằng cách sử dụng mô hình dự đoán Fibonacci. Đây là công cụ khá phổ biến. Tôi thường đặt mục tiêu đạt được là 50% mức phản hổi của giá , nghĩa là đường xu hướng sẽ thường bị quay trở lại mức 50% truớc khi tiếp tục đi đúng hướng. Tôi đã từng hướng đến mục tiêu 2000 pip khi sử dụng biểu dồ tuần khi mức giá ở 1.7000 và hướng đến mức giá 1.8525, và tôi thoát ra trước khi đường xu hướng có dấu hiệu bị phá vỡ.
Sử dụng các đường EMA cắt nhau để đặt lệnh và phân tích giao dịch. Trong một thị trường chưa có xu hướng, nó có thể giết bạn trừ khi bạn giao dịch ở biểu đồ 5 phút 2 đường EMA5 và EMA20 cắt nhau. Nhưng, trong một sự dịch chuyển xu hướng mạnh mẽ, nếu EMA50 và 200 cắt nhau trên biểu dồ 30 phút, khả năng nó tiếp tục lên 150-200 pips trước khi nó bật trở lại 1 chút. Khi EMA50 và 200 cắt nhau trên biểu dồ giờ, nó tiếp tục lên 100-150 pip nữa. Và nếu đường EMA50 và EMA200 cắt nhau trên biểu dồ 4 giờ, xu hướng cũ sẽ kết thúc và và 1 xu hướng mới sẽ diễn ra nhưng không rõ ràng.
Kĩ thuật dừng và đổi chiều: Tôi từng là người hâm mộ của kĩ thuật này. Có hang nghìn cách thức phân tích dấu hiệu đổi chiều khác nhau. Cho đến 1 ngày, tôi không còn đánh giá 1 lệnh đặt phức tạp với các phương pháp đánh giá đổi chiều. Thông thường bạn sẽ hứng thú với điều này khi chỉ trong 1 đêm tài khoản của bạn đã tăng vọt trong khi bạn đang ngủ. Nhưng nếu bạn thực hiện nó, GBP là đồng duy nhất biến động mạnh nhanh và xa, nhưng cũng dễ quay ngược lại. Nếu bạn chơi đúng, bạn có thể có lợi nhuận lớn, nhưng cũng có thể giá sẽ bị bật trở lại và chạm lệnh chặn lỗ. Để kĩ thuật này hiệu quả, bạn phải HIỂU được khi nào nó chạy và xây dựng kế hoạch cho bạn. Và bạn cũng chắc rằng có kế hoạch cho việc nếu nó bị phá vỡ thì nó không ảnh hưởng nặng nề đến bạn.
Những đường xu hướng: hãy học cách vẽ từng đường xu hướng đơn giản mà bạn có thể thấy, trong một mức giá, trên các đường chỉ số, ở mọi nơi. GBP giống như một con sông, và bạn có thể chơi trong lòng sông này khoảng 3-4 vòng thỉnh thoảng trong biểu đồ 15-30 phút. Lòng sông ì thường xuyên cao khoảng 70-150 điểm, và giá sẽ giống như một con cá đang cố gắng nhảy ra khỏi 2 mép sông đó.
Giao dịch bứt phá. Đó là điều mà hiển nhiên chúng ta sẽ gặp phải, và phải đối mặt thay vì lẩn tránh. Vvì thế chúng ta nhìn các đường support bị phá vỡ với candle 5 phút và bất ngờ chúng ta chọn lệnh BÁN … chỉ để nhìn nó hồi phục lại và tiếp tục theo xu hướng MẠNH. Các nhà cái thường chèo kéo có chủ đích, để đánh lừa bạn. Tôi cố gắng chỉ đặt lệnh với giá bị phá vỡ khi tôi nhìn thấy một tín hiệu mạnh mẽ từ các tín hiệu chỉ dẫn nói rằng các xu hướng đang dần bị gãy đổ. Nhưng nó có thể cám dỗ bạn ném đi toàn bộ kế hoạch có sẵn trong vài phút nông nổi.
Giao dịch theo tin tức: tôi đã từng giao dịch dựa trên các tin tức phân tích với các lệnh 20 điểm đặt trái chiều trên thị trường ( straddle) . Đây là 1 cách thức giao dịch tốt, nhưng phải có 1 lệnh chặn lỗ nhỏ cho tất cả các lệnh,và chấp nhận hủy ( OCO: one cancels other). Nếu tôi đang có 1 vị trí đặt lệnh tốt, và chúng ta đến gần tin tức, tôi sẽ đóng tất cả các lệnh có sẵn, và đợi cho đến khi kết thúc tin trước khi vào lệnh tiếp tục. Tôi đã từng cố gắng dự đoán thị trường chạy như thế nào, và dự đoán dữ liệu có sẵn sẽ cho chúng ta biết, đồng thời đặt lệnh trước khi ra tin. Vâng, nó hoạt động tốt 1 vài lần. Nhưng phải ĐẢM BẢO sàn giao dịch của bạn có thể đặt lệnh tốt và đúng giá trong lúc ra tin tức . Tôi đã thửi chơi với Ĩ, khi tôi giao dịch cho 1 quĩ đầu tư nhỏ, và đoán xem… Tôi vào lệnh cách 75 pip ở giá tốt nhất.. và lỗ gấp đôi.
Điều gì khiến thị trường hoạt dộng : với GBP, nó là 1 cỗ máy giao dịch vay mượn. Nghĩa là vì lãi suất của GBP cao hơn các quốc gia khác . Do đó việc lựa chọn giao dịch, chẳng hạn như vay đồng Yên, đồng có lãi suất thấp nhất, và mua GBP ( mua GBPJPY) và dễ dàng kiếm tiền từ sự khác biệt về lãi suất. Tuy nhiên, khi quốc gia này cắt giảm lãi suất không như mong đợi, hoặc các chỉ số kinh tế không tiếp tục tăng .. nó sẽ đem lại 1 tác động mạnh đến việc giao dịch và tạo nên 1 cuộc khủng hoảng đối với những nhà giao dịch vay mượn mong muốn thu về lợi nhuận. Điều này xảy ra vào tháng 3 năm 2004, tôi mua GBPJPY tai mức 191, và mua them khi nó phá vỡ mức 200… và trông chờ đạt đến mục tiêu 210 cho đến khi UK có tin xấu do giảm phát .. đã hạ gục hết tất cả những ai vay mượn để giao dịch trên đồng này , và nó bị bán tháo để rồi mất đi 800 pip trong 1 ngày rưỡi, và 58.8% lợi nhuận cả năm của tôi bị mất chỉ trong tuần đó
Vâng, còn rất nhiều điều tôi muốn nói với bạn.. nhưng hãy chú ý những điều mà tôi vừa mới giới thiệu trên đây. Tôi đã từng giúp rất nhiều người ở Global_view phát triển phong cách giao dịch của mình. 1 vài trong số họ rất thành công. Chúc bạn may mắn!!
Marc aka ICT ML aka MakoML
MakoForex Ltd.
(Maxi-Forex.com lược dịch)
Thứ Bảy, 8 tháng 12, 2007
Nhận diện chính xác 1 xu hướng ( Phần 2 )
Làm thế nào để nhận diện chính xác 1 xu hướng ( Phần 2 ) Trong bài trước ta đã bàn về phương pháp quyết định 1 xu hướng trước khi giao dịch trong thị trường ngoại hối. Đây là những bước tiếp cận cơ bản giúp chúng ta hiểu về xu hướng thị trường. Và tự nhiên, hạn chế của sự tiếp cận 1 chiều này là nó chỉ liên quan đến những quyết định về xu hướng trong 1 khung thời gian nào đó. Cách tiếp cận này có thể thích hợp với 1 số người giao dịch, tôi thấy rằng sẽ hiệu quả hơn nếu tìm ở những khung thời gian đa dạng như 1 cách để tăng khả năng thành công ở 1 giao dịch. Tuần này, tôi sẽ dựa trên những định nghĩa từ tuần trước và chứng minh rằng bằng cách nào để tìm thấy 1 hay 2 khung thời thời gian hữu ích. Đầu tiên, hãy xem lại những gì đã bàn ở tuần trước.Xu hướng trên đồ thị về tỷ giá EUR/USD dưới đây là gì?
Xu hướng hiện hành là gì? Thật ra có 2 câu trả lời : 1. Không rõ ràng. 2. Hướng xuống. Giá thấp hơn đường dịch chuyển trung bình có độ dốc nghiêng hướng xuống. Đây không phải là đồ thị thể hiện 1 xu hướng tăng lên. Tuy nhiên, câu trả lời của bạn là gì nếu cùng lúc bạn thấy đồ thị 240 phút đối lập với đồ thị 60 phút cho thấy dấu hiệu đi lên?
Xu hướng ở đây là gì? Ở đây, chỉ có 1 câu trả lời: xu hướng đang lên. Vì vậy, khi bạn dùng các phân tích từ 2 khung đồ thị khác nhau thì bạn sẽ có 1 chút lúng túng. Nếu bạn tiến hành giao dịch mà không dùng đồ thị 60 phút, thật khó để xác định xu hướng xuống (mặc dù đồ thị 60 phút có hướng đi xuống) khi khung thời gian cao hơn tiếp theo cho thấy rằng bạn đang đi ngược lại toàn bộ xu hướng. Ngược lại, nếu bạn định giao dịch mà không dùng đồ thị 240 phút thì đồ thị 60 phút sẽ ít thích hợp hơn và bạn có thể có nhiều khả năng tách khỏi 1 cơ hội mua dài hạn. Những khung thời gian lâu hơn luôn diễn ra trước. Đây là 1 phần của giao dịch, nó mang tính 'nghệ thuật' nhiều hơn tính 'khoa học' và sau đó làm nổi lên những hạn chế nghiêm trọng của sự tiếp cận thuần túy máy móc. Nếu chúng ta biết thêm từ loạt bài này, thì sẽ có cái nhìn rõ hơn về sự phân biệt có thể mang tính chủ quan như thế nào Hãy xem 1 ví dụ khác. Trong trường hợp này, chúng ta sử dụng 3 khung thời gian để phân tích. Trong khi đồ thị 240 phút và đồ thị hằng ngày có hướng xuống rõ ràng thì đồ thị 60 phút có thể giới hạn chuyển động về 1 phía nhờ vào những điều kiện kỹ thuật của nó.
Xu hướng đang xuống, nhưng 1 xu hướng đối lập đang bắt đầu
Trong khi xu hướng đang lên, đường xung lượng ( momentum) hướng xuống và đường EMA 50 ngày đã bị xuyên qua ( đường màu đỏ ) Kết hợp các dấu hiệu 1 cách tốt nhất. Câu trả lời ở đây là gì? Hãy chờ thêm thông tin. Việc này rất gần với công việc của tôi, như bạn biết tôi luôn nghĩ rằng chính quyết định của bạn sẽ đem lại hiệu quả giao dịch cao nhất. Có phải có cách kiếm tiền từ việc giao dịch ở cặp tỷ giá EUR/JPY về lâu dài? Hoàn toàn có thể, nhưng khả năng của giao dịch này sẽ giảm bởi khung thời gian lâu hơn. Tôi biết rằng phần bài tuần này sẽ hơi khó hiểu 1 chút và bạn không tìm thấy 1 câu trả lời rõ ràng. Nhưng không sao, đây là 1 khái niệm hóc búa để nắm được nhất là khi bạn thêm vào những biến số mới. Tiếp theo bài này sẽ có những nghiên cứu mới được đưa vào để giúp bạn có 1 ý tưởng và cách đơn giản để nhận ra những cơ hội có nhiều khả năng xảy ra hơn. Có thể bạn cho rằng nhận diện xu hướng là chìa khóa, nhưng thật ra nó chỉ là 1 mảnh của toàn bộ bức tranh về thị trường . Dave Floyd (Theo ActionForex.com - Maxi-forex.com lược dịch) | ||
| |
Thứ Sáu, 7 tháng 12, 2007
Nhận diện chính xác 1 xu hướng ( Phần 1 )
Làm thế nào để nhận diện chính xác 1 xu hướng ( Phần 1 )
Nếu có 1 vấn đề muôn thưở chưa rõ ràng đối với người giao dịch thì đó là “xu hướng”. Tùy thuộc vào người bạn hỏi, bạn sẽ có câu trả lời khác nhau.
Cho dù câu trả lời của họ thế nào bạn cũng đừng lo lắng, thật sai lầm nếu bạn tin là có 1 câu trả lời chính xác về cách thức giao dịch. Sai lầm trong việc nhận dạng 1 xu hướng sẽ làm giảm sự thành công đáng kể.
Điều đầu tiên để bắt đầu là việc bạn nhận ra khung thời gian thích hợp để quyết định giao dịch. Đối với tôi chỉ có 3 sự lựa chọn đó là dựa vào các đồ thị mỗi 60 phút, mỗi 4 giờ hoặc các đồ thị hằng ngày, đây là 3 khung thời gian tốt nhất bạn nên theo để giao dịch. Tuy nhiên, đa số những người giao dịch dựa vào đồ thị 60 phút. Vì vậy, đến lúc đó hãy xem xét nó thật đơn giản. Tôi sẽ không quyết định trong những khung thời gian mà có sự không rõ ràng.
Xu hướng trên những đồ thị sau đây là gì?
Xu hướng hiện tại của vùng tô màu vàng là gì?
Theo lẽ thường, đó là 1 câu hỏi hơi mưu mẹo 1 chút. Dựa trên những gì tôi biết, câu trả lời đơn giản là không đủ thông tin để gọi tên xu hướng đó. Chắc chắn rằng những biến động cuối cùng là đi lên cho dù toàn bộ giá vẫn trong hướng thấp đi.
Hãy thêm thông tin cho đồ thị này
Tôi không cảm thấy có 1 sự đứt quãng trên hoặc dưới đường biến động trung bình có thể khiến xu hướng thị trường thay đổi, chỉ là 1 sự thay đổi trên đường dốc.
Đây là điểm then chốt khi thị trường bắt đầu thay đổi, đường trung bình dốc lên, và đó cũng là 1 xu hướng.
Bằng cách thêm 1 đường dịch chuyển trung bình (MA), người ta có thể phân tích xu hướng “hiện hành” tốt hơn. Hãy nhớ rằng, bạn không nên quá quan tâm đến những diễn biến nhiều giờ trước nhưng bạn cần quan tâm đến những gì xảy ra cách đây từ 4 đến 6 giờ.
Nếu không có đường dịch chuyển trung bình, gần như không thể nhận diện đúng xu hướng thị trường.
Hãy xem 1 ví dụ khác
Xu hướng ở đây là gì?
Tôi nghi ngờ những người nói rằng : “Xu hướng đang lên, tôi sẽ tính toán để mua trong giai đoạn này”. Nhưng 1 lần nữa, đơn giản là không đủ thông tin để nghe theo kết luận này ở thời điểm. Hãy thêm đường dịch chuyển trung bình vào.
Đường dịch chuyển trung bình đang dốc xuống, càng có khả năng các giao dịch là để hạn chế sự tăng giá sau 1 thời gian chứ không phải mua
Nếu bạn không thể nhận ra đúng xu hướng, nhiều khi sẽ không chống lại nổi việc mua vào?? ở mức giá sàn mong đợi, hoặc trong trường hợp này là sự hỗ trợ giả tạo – điều này có thể tránh nếu bạn nhận diện đúng xu hướng.
Không cần phải nói, giao dịch này có thể đã diễn ra không tốt.
Bài tiếp theo tôi sẽ đề cập chi tiết đến về việc định nghĩa 1 xu hướng đúng cũng như quyết định trong những khung thời gian khác để làm rõ định nghĩa về xu hướng.
Dave Floyd (Maxi-forex.com lược dịch)
Thứ Năm, 6 tháng 12, 2007
Các mô hình cơ bản ( phần cuối )
Các mô hình cơ bản ( phần cuối )
Còn rất nhiều khái niệm khác cần được đề cập đến trong bất kỳ bàn luận nào về các mô hình đồ thị cơ bản vì chúng là 1 phần không thể thiếu của bất kỳ kỹ thuật phân tích nào.
Mức giá sàn (support) và mức giá trần (resistance) – như những gì đã đề cập trong bài viết này, các kỹ thuật phân tích bắt đầu với những đường xu hướng. Đường xu hướng cũng là điểm đầu tiên của các mức giá sàn và giá trần. Dự kiến 1 đường xu hướng để quyết định vùng giá sàn và giá trần trong tương lai luôn đem lại hiệu quả. 1 đường xu hướng dọc theo các mức giá thấp là 1 đường hướng lên và và ngược lại nếu đi qua các điểm giá cao là 1 đường hướng xuống và đó là ranh giới quan trọng để vượt qua nếu thị trường định thay đổi xu hướng.
Tuy nhiên đường xu hướng không chỉ là nguồn gốc của các mức giá sàn và giá trần. 1 trong những phương pháp phổ biến để quyết định các mức giá sàn và giá trần là dựa vào 1 dãy đồ thị và các mức giá trước đây của chúng, sau đó quan sát xem mức giá nào là mức giá cao, mức giá thấp và mức gần nhất dễ đạt đến nhất. Phương pháp quyết định mức giá sàn và mức giá trần dựa trên bất kỳ dãy đồ thị ở các khung thời gian như mỗi giờ, mỗi ngày, mỗi tuần và mỗi tháng. 1 loạt giá cao và thấp nhiều lần tập trung ở các vùng giá thấp nhưng không phải là 1 mức giá nhất định. Thay vào đó nếu có 1 miền giá trần và giá sàn hẹp sẽ hiệu quả hơn.
Nhiều đỉnh và đáy cũng là các mức giá sàn và giá trần. Những đoạn giá bỏ trống trên đồ thị cũng được xem như những mức giá trần và giá sàn tốt. Đường dịch chuyển trung bình, đặc biệt là những đường dài hạn, có thể cung cấp các mức giá sàn và giá trần. Ngoài ra còn có cách khác để nhận biết các mức giá sàn và giá trần như là qua các góc hình học từ các điểm quan trọng xác định, 1 khái niệm liên quan đến W.D.Gann (1 người kinh doanh chứng khoán và hàng hóa trước đây đã qua đời vào năm 1955).
Cuối cùng, các mức giá trần và giá sàn có thể quyết định bởi các mức giá “tâm lý” (psychological price levels). Chúng thường là những số được làm tròn nhưng lại rất có ý nghĩa trong 1 thị trường. Ví dụ như đối với dầu thô thì mức giá “tâm lý” là khoảng 60$/ thùng. Đối với đậu nành, thì mức giá có thể là 5$ hoặc 6$/giạ hay vải cotton là 0.5$/ pao(0.45g). Những điểm giá này xác định các mức giá tăng hoặc giảm khi thị trường tạm ngưng để củng cố lại.
Nhiều mô hình đồ thị được phát triển là kết quả của sự biến động của giá trong vùng giá sàn và giá trần. Ví dụ như mô hình 2 đáy có thể hình thành bởi vì thị trường tìm ra được mức giá sàn từ 1 điểm đáy trước, hoặc là mô hình tam giác được định hình khi giá không thể vượt qua mức giá sàn và giá trần của đường xu hướng trong ngắn hạn cho đến khi có sự phá vỡ xuất hiện.
Một điểm quan trọng cần chú ý về các mức giá sàn và giá trần là khi mức giá sàn quan trọng hoặc là 1 miền giá bị phá vỡ theo hướng giảm, thì mức giá hoặc miền giá đó có thể sẽ trở thành mức giá trần quan trọng. Cũng như thế, 1 mức giá trần hoặc 1 miền giá quyết định sẽ bị phá vỡ theo hướng tăng sau đó có thể trở thành mức giá mức giá sàn hoặc vùng giá quan trọng.
Sự quay trở lại xu hướng cũ (retracement) – 1 cách khác để tìm ra vùng giá trần và giá sàn là bằng cách tìm ở “retracement” của sự di chuyển các mức giá quan trọng. Giá biến động có nghĩa là có sự chống lại xu hướng đang tồn tại. Những biến động này có thể gọi là sự điều chỉnh của thị trường (correction). Một khi thị trường đã vượt ra khỏi xu hướng ban đầu, điều đầu tiên mà nhiều người giao dịch muốn biết là sự biến đổi này hay sự điều chỉnh này sẽ đi đến đâu.
Dựa trên những nghiên cứu về giá trước đây, 1 “retracement” phổ biến là khoảng 50% xu hướng cũ. Ví dụ như 1 thị trường đang có xu hướng tăng chắc chắn thường bắt đầu từ mức giá 100 và tăng dần lên đến 200. Sau đó sẽ có điều chỉnh, thông thường thì thị trường hiếm khi biến động theo 1 chiều. Vậy khi nào giá của 1 thị trường sẽ đổi hướng? Những nhà phân tích dựa trên “retracement” thì đặt ra 1 mục tiêu khoảng 150 hay 50% của sự dịch chuyển giá từ 100 đến 200 và mong rằng giá sẽ bật lên và trở lại hướng tăng sau khi chạm đến 1 mức nào đó. Sự điều chỉnh “retracement” thấp hơn 50% chỉ sổ trung bình là 1 xu hướng mạnh, ngược lại là 1 xu hướng yếu.
Mức 50% không chỉ là 1 mức “retracement” phổ biến. Một số nhà phân tích sử dụng mức từ 33% đến 67% như các mức trần và mức sàn. Còn theo các số liệu mang tính quy luật thì sử dụng mức từ 0.382% đến 0.618% của 1 sự di chuyển ưu tiên như các mức trần và mức sàn quyết định.
Cho dù bạn sử dụng như 1 mục tiêu “ retracement” như thế nào thì bạn có thể đạt được 1 giá trị cao nếu như nó trùng khớp với dạng mức sàn và mức trần quan trọng như 1 đường xu hướng, mức cao hoặc thấp trước đây hay 1 khoảng trống.
Vùng trống (gap) – Vùng trống là những vùng mà không có giao dịch nào xảy ra. Dãy giá thấp sau cùng thì cao hơn dãy giá cao đối với 1 dịch chuyển của 1 vùng trống hướng lên. Dãy giá cao sau cùng thấp hơn dãy giá thấp trước đó để tạo ra sự dịch chuyển của 1 vùng trống hướng xuống. Ví dụ như nếu thị trường gần đến mức 100 trong 1 phiên và sau đó mở rộng đến 105 ở phiên tiếp theo thì sẽ có 1 vùng trống hiển nhiên trên đồ thị.
Với các giao dịch điện tử 24/24 thì vùng trống ít có khả năng xuất hiện khi thị trường dễ di chuyển từ mức giá đến mức giá khác. Tuy nhiên đối với những thị trường chỉ có các phiên trong ngày mà gồm những hàng hóa mang tính vật chất nhất ( ví dụ như chứng khoán) thì các vùng trống có thể lộ ra bởi những tin tức hoặc hướng phát triển có giá trị trong 1 đêm mà tạo ra 1 sự thay đổi đột ngột về giá. Các vùng giá trống là biểu hiện tiêu biểu của sự thay đổi mạnh của thị trường và sau đó sẽ tạo ra các mức giá sàn và giá trần quan trọng trên đồ thị.
Vùng trống không thể được mô tả như 1 dấu hiệu nghịch đảo hay tiếp diễn mà những vùng trống khác nhau có nghĩa khác nhau – đôi khi chúng có những ảnh hưởng không nhỏ chút nào. Có 3 dạng vùng trống chính sau đây:
· Vùng trống chạy trốn (breakaway gap). Vùng trống này xuất hiện ở đầu của 1 sự thay đổi về giá khi giá không theo hướng cũ mà đột nhiên đi ngược chiều hoặc vượt ra khỏi đồ thị đã hình thành như tạo ra 1 hướng đi hay 1 dạng tạm giác. Điểm “breakaway” có thể do những điều kiện mới mà người giao dịch đã biết hoặc việc mua hay bán bị kiềm lại xảy ra trong 1 hướng đi mạnh.
· Vùng trống đo lường được (measuring gap). Khi thị trường dịch chuyển lên hay xuống, nó có thể đột nhiên thay đổi tạo ra 1 vùng trống cao hơn hoặc thấp hơn với 1 mức phát triển mới. Một số nhà phân tích xem vùng trống dạng này như 1 điểm nửa chừng để đi đến 1 đích giá cuối cùng. Rõ ràng là không thể biết chắc điều này đến khi chấm dứt sự dịch chuyển vì vậy những vùng trống như dạng này chỉ là 1 mẹo nhỏ được sử dụng trong phân tích. Tuy nhiên, bạn có thể liên kết các vùng trống với các vùng giá trần và giá sàn xác định như là sự tăng lên hay giảm xuống để mục tiêu giá tiềm năng.
· Vùng trống suy yếu (exhaustion gap). Vùng trống này xuất hiện ở cuối của 1 sự dịch chuyển mở rộng và phản ánh sự bùng phát cuối cùng của việc mua ở thị trường hướng lên hoặc là bán ra ở thị trường hướng xuống. Một khi việc mua hoặc bán này xảy ra thì sẽ không có thêm người mua hoặc bán nào mới để duy trì xu hướng – thế lực để vận hành xu hướng đã suy yếu. Kết quả là sự thay đổi trong xu hướng có thể tạo ra những chuyển động đột ngột ngược với định hướng như là sự tranh giành muộn của người mua hoặc người bán để tránh vị thế kém của họ. Đây là 1 dạng tình huống mà đôi khi tạo ra 1 vùng đỉnh hay 1 vùng đáy trên đồ thị. Các hoạt động của giá trong 1 ngày hoặc nhiều ngày có thể bị cô lập bởi các vùng trống suy yếu và sau đó 1 vùng trống ly khai sẽ đột nhiên quay ngược lại.
( Maxi-Forex.com lược dịch theo TradingEducation.com)
Thứ Tư, 5 tháng 12, 2007
Các mô hình cơ bản ( phần 2 )
Các mô hình cơ bản ( phần 2 )
Như cái tên của nó, đây là những mô hình đổi chiều cho thấy dấu hiệu xu hướng đã kết thúc và thị trường đã sẵn sàng đổi sang 1 xu hướng khác ngược với hướng ban đầu, hoặc có thể, dao động ngắn ( sideways) trong 1 thời gian.
Mô hình cơ bản: Các mô hình đổi chiều
Cùng với mô hình tiếp diễn, đường xu hướng (trendline) là mô hình cơ bản để xem xét. Nếu giá phá vỡ đường xu hướng, và tiếp tục bứt phá, đây là sự xác nhận của 1 sự đổi chiều xu hướng. Luôn nhớ rằng, tất cả các mô hình đều có thể áp dụng cho mọi khung thời gian (time frames) – theo giờ, ngày, tuần, tháng, năm hoặc có thể theo biểu đồ phút.
Mô hình 2 đỉnh – (double tops): Hiện tượng này xuất hiện khi giá đạt đến một điểm cao rõ rệt, vượt hẳn điểm trước đây, sau đó quay lại điểm đó và lại vượt lên. Khi thời gian 2 đỉnh liên tiếp của sự tăng giá này cách nhau càng lâu thì càng thể hiện khả năng tăng giá của đồ thị này. Sự biến đổi của mô hình này tương tự như hiện tượng mà người ta gọi là mô hình các đỉnh “M” hay 1-2-3 đợt sóng tăng giá. Tuy nhiên, sự tăng giá thứ 2 thường thấp hơn sự tăng giá đầu tiên đối với mô hình này. Trong hầu hết các trường hợp, những điểm quyết định thường là những điểm tăng giá, đó là những điểm đánh dấu khả năng xuất hiện một mức giá trần mong đợi, và một mức giá thấp tạm thời. Nếu giá giảm xuống thấp hơn mức đó, đó là sự xác nhận đỉnh mô hình và dấu hiệu khuyên bạn nên bán.
Mô hình 2 đáy (double bottom) – nguyên tắc của mô hình này giống như sự ngược lại của mô hình 2 đỉnh. Tương tự mô hình này được gọi là mô hình các đáy “W” hoặc 1-2-3 đợt sóng giảm giá. Trong tất cả các trường hợp của mô hình này, giá đạt đến một mức thấp rõ rệt, có sự bật lên 1 chút, sau đó rớt xuống mức thấp để thử lại 1 lần nữa, và cuối cùng tăng trở lại. Khi giá vượt khỏi mức cao tạm thời, khi đó đáy mô hình được xác nhận và thị trường nên bán.
Mô hình đảo ngược các đỉnh “đầu và vai” (Head-and-shoulders top reversal)– Mô hình đảo ngược khuynh hướng truyền thống này xuất hiện khi thị trường tạo ra một điểm cao mới (left shoulder), giảm xuống, tăng lên đến đỉnh mới cao hơn (head) và giảm trở lại, sau đó tăng tới 1 đỉnh cao mới sau 1 thời gian có thể là bằng với đỉnh bên trái (left shoulder) và sau đó thì giảm trở lại. Điểm mấu chốt ở đây là “1 đường tiệm cận” - “neckline” hoặc là 1 đường nằm ngang mà có thể nối 2 điểm thấp trên đồ thị.
Khi giá rớt xuống thấp hơn “neckline”, đó là dấu hiệu kết thúc sự tăng giá và có khả năng bắt đầu 1 đợt giảm giá của thị trường. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp giá có khuynh hướng đi ngược với xu hướng thị trường vì vậy sự dừng lại chưa tạo ra một xu hướng giảm giá ngay. Đôi khi điểm dừng lại của đường tiệm cận xuất hiện như 1 sự gián đoạn hoặc báo hiệu 1 xu hướng giảm giá mạnh, ủng hộ cho sự đảo ngược về giá.
Mô hình “ đầu và vai” là một trong nhiều loại mô hình đồ thị khác nhau mà được sử dụng để hoạch định cho chiến lược về giá. Các nhà phân tích đo lường khoảng cách từ đỉnh “head” đến đường tiệm cận của đồ thị sau đó trừ đi khoảng cách từ điểm ngừng của đường tiệm cận để tính toán xem giá có thể giảm đến mức nào.
Mô hình đảo ngược các đáy “đầu và vai” (Head-and-shoulders bottom reversal)– Có thể nói mô hình 2 đáy là nghịch đảo của mô hình 2 đỉnh, các đáy “vai và đầu” thì cũng giống các đỉnh “vai và đầu” nhưng ngược lại. Điều này có nghĩa là giá trượt xuống 1 mức thấp (left shoulder), tăng trở lại sau 1 thời gian, sau đó giảm xuống đến 1 mức thấp hơn (head), lại tăng trở lại và sau cùng là hạ xuống lần nữa đến 1 mức thấp xấp xỉ với mức “left shoulder” (right shoulder).
Đường tiệm cận của đồ thị rất quan trọng. Khi giá vượt khỏi đường tiệm cận này, mô hình đảo ngược kết thúc và 1 xu hướng tăng tiềm năng có thể xuất hiện. Cùng với các đỉnh “ vai và đầu”, có thể có 1 vài giao dịch về phía sau và phía trước theo cả 2 phía của đường tiệm cận khi thị trường quyết định chọn hướng đi, và khoảng cách giữa đường tiệm cận và đỉnh “head” có thể được sử dụng để dự đoán xem giá có thể biến động như thế nào.
Mô hình “sụt giá theo 1 mũi nhọn” (Falling wedge) – Mô hình này xuất hiện khi thị trường đang trong xu hướng đồng loạt giảm giá và các loại giá cao giảm nhanh hơn các loại thấp, giống như dạng mũi nhọn. Người bán có thể đẩy giá đến mức thấp hơn nhưng do có 1 lượng mua hỗ trợ để giữ thị trường không bị giảm giá thấp hơn. Cuối cùng sức mạnh của bên bán bắt đầu cạn dần và không thể khiến giá thị trường giảm thấp hơn nữa, và thị trường bắt đầu bật dậy khi thế lực của bên bán vượt hẳn bên mua. Những mô hình như thế này thường có hướng tăng giá và là điềm báo có 1 sự thay đổi khuynh hướng thị trường.
Mô hình “tăng giá theo 1 mũi nhọn” (Rising wedge) – Mô hình này ngược lại với mô hình trên và xuất hiện khi thị trường ở xu hướng tăng giá. Người mua tiếp tục đẩy đẩy các loại giá thấp trong ngày lên, nhưng người mua đã giữ cho giá thị trường không lên quá cao. Sau cùng việc mua đã giảm và người bán nắm thị trường, và đẩy giá xuống thấp hơn mũi nhọn tạm thời của xu hướng tăng giá. Những mô hình như thế này thường có hướng giảm giá và là điềm báo có 1 sự thay đổi khuynh hướng thị trường.
Mô hình “kim cương” (diamond pattern) – Đây là 1 mô hình hiếm thấy xuất hiện thường xuất hiện những thị trường giá cao. Sự hay thay đổi tăng lên ở các mức giá cao hơn, tạo ra 1 phạm vi của giá trần và giá sàn trong 1 giao dịch rộng hơn để tạo nên 1 đoạn rộng nhất của mô hình “ kim cương”. Sau đó sự thay đổi này giảm xuống về phía phải của các mức giá cao và dãy biến động giá trở nên hẹp hơn khi xu hướng giống như dạng “mô hình tam giác” để kết thúc diễn biến của mô hỉnh “ kim cương”. Sự hay thay đổi theo hướng thấp, cao, thấp liên tiếp nhau này thường tự tạo ra chiều hướng của mình đến khi kết thúc.
( Maxi-Forex.com lược dịch theo TradingEducation.com)





