Thứ Năm, 17 tháng 3, 2011

Thiên tai làm người Nhật gần nhau hơn


VietCatholic News (16 Mar 2011 20:33)
Sự cố động đất và sóng thần tại Nhật ngày 11/3/2011 vừa qua làm rung động không chỉ nức Nhật mà còn rung động các nước trên thế giới. Đọc bài viết của tác giả KAORI SHOJI, thiết nghĩ chúng ta cũng cảm nghiệm được bài học riêng cho mình – cả về tâm linh lẫn thực tế.

Nhiều thế kỷ qua, Nhật đã hoạt động về luận lý vô âm (unvoiced logic) mà sự chắc chắn duy nhất có trong thế giới là tai họa – đặc biệt là thiên tai (天災 – tensai). Bốn thế kỷ trước, các công dân Tokyo cổ (江戸 – Edo) nói với nhau rằng họ có 4 điều lớn để họ sợ: Động đất (地震 – jishin), Sấm chớp (雷 – kaminari), Hỏa hoạn (火事 – kaji) và Người Cha (親父 – oyaji). Bốn điều này là “thủ phạm” lớn bắt chịu đựng nhưng đồng thời vẫn có một số ít người có thể ngăn chặn. Điều quan trọng thứ nhất đã xảy ra: Động đất.

Trước tiên, người ta được chuẩn bị. Ngay khi trẻ em Tokyo biết đi, chúng được cung cấp mũ bảo hiểm (防災頭巾 – bōsai zukin) để tránh lửa và mảnh vỡ rơi xuống bất ngờ, và đeo một ba lô nhỏ chứa lương thực khẩn cấp, một chai nước, một chiếc khăn và các đồ dùng cá nhân cần thiết khác. Khi chúng trưởng thành, chúng biết rằng một chủ nhân tốt luôn luôn cấp loại mũ này cho các nhân viên. Khi động đất tàn phá Nhật ngày thứ Sáu 11/3/2011, nhiều người bắt đầu đi bộ về nhà và đội mũ bảo hiểm.

Nói về việc đi bộ, nhiều công ty ở Tokyo cho rằng sẽ có lúc xe lửa và xe điện ngầm ngưng hoạt động và các nhân viên phải đi bộ. Có từ ngữ dành cho những người như vậy: Những người gặp khó khăn trở về nhà (帰宅困難者– kitaku konansha), và các nhân viên tham gia các máy khoan mô phỏng (được công ty tài trợ nhưng thường là chính quyền thành phố) nơi mọi người tụ họp tại cuộc họp được sắp xếp trước vào cuối tuần, và trở về với chiếc ba lô đựng những đồ cần thiết. Khoảng cách chênh lệch từ 15 đến 21 km – điều này khiến người ta ra khỏi thành phố và đến các ngoại ô Chiba hoặc Saitama, nơi họ sinh sống. Ngày động đất và sóng thần tại Nhật vừa qua, các đường phố đầy kitaku konansha, nhưng điều đó ở Tokyo vẫn có nhiều quán rượu (一杯呑みや – ippai nomiya) và nhiều trạm xe lửa gần đó vẫn hoạt động đến khuya để giúp đỡ những người không thể đi bộ.

Người ta nói rằng phụ nữ Nhật cho thấy một số đồ tốt trong tai họa #8212. Ngày xưa, phụ nữ xắn tay áo kimono lên để có thể tìm được ít gạo để nấu ăn (炊き出し – takidashi) cho những người bị thương và đói. Tại thành phố Ishinomaki, thuộc Miyagi, 70%% số dân hiện nay ở khu tạm cư (避難所 – hinanjo), một số ít người vợ và con cái, vẫn có nhà không bị tàn phá, đi lùng sục các thùng gạo để làm bánh gạo (おにぎり– onigiri, loại bánh kẹp takidashi truyền thống) để phân phối cho những người cần. Mặt khác, người ta hóa thành những người hùng cứu vớt (救助 – kyūjo), và những câu chuyện về lòng can đảm, những người này hoàn toàn vì người khác, họ đang làm khâm phục nhân dân khắp nước Nhật.

Tại vùng Kanto, việc tiết kiệm điện (計画停電 – keikaku teiden) buộc người ta phải nghỉ sớm, hoặc như ở Ibaraki, người ta phải chờ ở nhà cho đến khi có thông báo mới (自宅待機 – jitaku taiki). Điều này không hoàn toàn xấu: Những người chồng và những người cha ở nhà, có thể là lần đầu tiên trong đời họ, để chia sẻ sự hoang mang của gia đình. Những người vợ và những người mẹ ở nhà với con cái, và vì thiếu nguồn lương thực (食材不足 – shokuzai busoku) trong thành phố mà phải cắt bữa trưa ở trường (給食カット– kyūshoku katto), nhiều học sinh cũng về nhà sớm và bám chặt lấy cha mẹ. Để tiết kiệm điện, một số ít người chơi trò chơi bằng điện thoại di động (モバゲー – mobagē), nhiều người bàn tán với nhau, và có thêm những người bạn mới ở chỗ làm. Thiên tai và thảm họa theo sau đã tạo hệ quả phải giảm thời gian, các gia đình ngạc nhiên kể lại rằng họ đang ngồi ăn với nhau sau bao năm không gặp nhau thì tai họa ập đến bất ngờ.

Việc tắt đèn điện và dư chấn (余震 – yoshin) có thể còn kéo dài tới tháng Tư, đặc biệt là “dư chấn tinh thần”. Số người chết và mất tích (行方不明者 – yukuefumeisha) được xác định gần 10.000 người. Cảnh sát (警察 – keisatsu), lực lượng phòng thủ (自衛隊 – jieitai) và chính quyền địa phương (自治体 – jichitai) đang nỗ lực tìm kiếm (捜索 – sōsaku) những người còn sống sót.

Từ ngữ thường được nhắc đến trong những ngày này là An Toàn (無事 – buji), gồm chữ kanji (viết theo lối Hán) là chữ mu (無 – không có gì) và koto (事 – điều bất ngờ). Không có gì bất ngờ: Đó là tình trạng chúng ta phải trả giá.

(Chuyển ngữ từ Japan Times)
Trầm Thiên Thu

Nét văn hóa độc đáo của người Nhật


VietCatholic News (16 Mar 2011 19:46)
Cả thế giới đều đã được nhìn tận mắt sức tàn phá khủng khiếp của trận động đất và cơn sóng thần ngày 11 tháng 3 vừa qua tại Nhật. Hình ảnh cơn lũ biển cao 10 thước với vận tốc gần 2 trăm cây số giờ đổ xuống các làng mạc và thị thành ven biển phía bắc của Nhật, mang theo thác chẩy của nó bất cứ vật gì, sẽ còn hiển hiện trong tâm trí nhiều người trên thế giới trong nhiều thời gian sau. Nhưng một hình ảnh khác, xuất hiện muộn hơn một chút, cũng sẽ không thua xa độ bền trong tâm trí họ. Đó là hình ảnh một dân tộc anh dũng duy trì được nền đạo đức cộng đồng trong một hoàn cảnh cực kỳ cùng cực và hỗn độn do thiên nhiên tạo ra: người chết hàng loạt, người mất tích đông vô kể, nhiều thành phố và làng mạc bị san bằng trong phút chốc, và viễn tượng phóng xạ không thua 1945, viễn tượng mà có người cho rằng: tôi sống sót, nhưng không biết là tốt hay xấu (theo tin CNN). Tốt hay xấu, người Nhật vẫn một lòng biểu lộ nền đạo đức cộng đồng của họ.

Đài CNN trưng trường hợp: không một nạn cướp giật nào xẩy ra nhân vụ động đất và sóng thần khủng khiếp này. Tất cả những biến động gần đây, dù là ở đâu, ở Anh hay ở Mỹ, nạn cướp giật vẫn xẩy ra nhãn tiền. Ở Nhật, nó đã không xẩy ra. Có người nói tới những đôi dép đặt ngay ngắn bên ngoài các trung tâm tạm cư; những hàng người kiên nhẫn đứng chờ hàng giờ đến lượt vào mua nửa cân gạo, một cây nến; những viên chức cho biết chỉ nhận được 10% sự giúp đỡ cho dân mình, nhưng sẵn sàng kiên nhẫn vì “ai cũng đau khổ như mình”; những người chủ siêu thị, máy bán thức ăn thức uống sẵn sàng bán chịu hay tặng không; những thanh thiếu niên cúi đầu cám ơn khi “được” rà máy khám phá tia phóng xạ; người dân âm thầm bắt tay vào diễn trình phục hồi, tái thiết, không đợi ai, không ta thán ai, không khoán trắng cho ai. Và đài CNN làm một cuộc thăm dò: tại sao người Nhật không cướp giật? Nay mai, thế giới chắc chắn sẽ được đài này cho biết câu trả lời. Có điều ai cũng biết câu trả lời chắc chắn không như câu trả lời lâu nay trên liên mạng đối với câu hỏi tại sao ở Texas không có nạn cướp giật: đó là một tấm hình, chụp một nhóm thanh niên tay cầm súng lên nòng sẵn, tay kia ôm một biển ngữ viết hàng chữ màu đỏ (mầu máu?): “Drunks with guns, U loot we shoot” (say rượu có súng, mày cướp, bọn tao bắn). Đài CNN gợi ý: có thể là do Thần Đạo và Phật Giáo. Chả lẽ cướp giật lại là phó sản của các tôn giáo không phải là Thần Đạo và Phật Giáo? Thần Đạo thì chỉ Nhật mới có, nhưng Phật Giáo thì không của riêng Nhật. Và không thiếu cảnh cướp giật trong nhiều xứ Phật Giáo. Nhiều ý kiến cho rằng không hẳn do yếu tố chủng tộc mà do yếu tố văn hóa, bén rễ trong tâm trí người dân Nhật cả hàng nghìn năm nay, bất kể các tấn công như vũ bão từ bên ngoài. Họ là những người khiêm tốn, tự trọng, quyết tâm bảo vệ danh dự gia đình. Danh dự là điều xác định ra tác phong văn hóa Nhật Bản. Họ quí trọng người trẻ, người già, thành quả giáo dục, mục tiêu nghề nghiệp, gia đình. Tại Nhật, ô danh không những mang nhục cho cá nhân mà nhục cho cả gia đình, dòng tộc. Danh dự ấy, người dân Nhật đang kiêu hãnh chứng tỏ cho cả thế giới thấy.

Mặt mũi và thực cảm

Nhiều tài liệu viết về văn hóa Nhật Bản nhấn mạnh tới “tatemae”, tư cách bên ngoài (public persona) và “honne”, tâm tư thực sự bên trong và cho rằng: ngoài công cộng, người Nhật ưa biểu lộ mặt mũi, vì địa vị, vì vai trò của mình, bất chấp các ý kiến tư riêng. Những tâm tư, tình cảm, ý kiến riêng luôn được khuyến khích dấu kín, nhất là khi làm việc công, chỉ nên thổ lộ với bạn bè. Chỉ xét như thế, người Nhật có vẻ khép kín, theo chủ nghĩa cá nhân.

Thực ra, người Nhật không đơn giản như thế, họ có cả một thứ triết lý sống phong phú và phức tạp hơn nhiều. Cũng như nhiều dân tộc trên thế giới, trong thần thoại học của họ, các vị thần cũng biểu lộ các xúc cảm nhân bản như yêu thương và giận dữ. Trong các truyện kể này, tác phong nào đem lại các tương quan tích cực với người khác đều được tưởng thưởng, và sự tương cảm (empathy) tức việc đặt mình vào hoàn cảnh người khác, rất được trân quí. Ngược lại, hành vi nào chống lại xã hội, có hại cho người khác, đều bị kết án, trừng phạt. Không một xã hội nào có thể hiện hữu mà lại dung túng tác phong phản xã hội về lâu về dài, nhưng Nhật Bản là một trong những xã hội dựa nhiều nhất vào sự thưởng phạt có tính xã hội hơn là có tính siêu nhiên và nhấn mạnh tới ích lợi của sự hòa hợp. Trẻ em Nhật, từ rất sớm, đã được dạy rằng sự thành toàn nhân bản phát sinh từ việc liên hợp với người khác. Chúng được người ta dạy rất sớm rằng chúng là thành phần của một xã hội liên lập, bắt đầu từ gia đình và sau đó lan rộng ra các nhóm lớn hơn như khu xóm, trường học, cộng đồng, và nơi làm việc. Tùy thuộc người khác là một phần tự nhiên trong thân phận làm người; nó chỉ bị coi là tiêu cực khi các trói buộc xã hội do nó tạo ra quá nặng nề đến chu toàn không nổi.

Trong các liên hệ liên bản ngã, phần lớn người Nhật có khuynh hướng tránh việc cạnh tranh hay tranh chấp công khai. Làm việc với người khác đòi có tinh thần tự chế (self-control), nhưng nó đem lại phần thưởng tự hào vì đã đóng góp cho nhóm, an toàn xúc cảm, và bản sắc xã hội. Hòa (wa), tức ý niệm hòa hợp trong nhóm, đòi tác phong hợp tác và nhìn nhận các vai trò xã hội. Nếu mỗi cá nhân trong nhóm hiểu rõ bổn phận bản thân và tương cảm với hoàn cảnh người khác, thì cả nhóm được nhờ. Thành công chỉ đến nếu mọi người đóng góp phần cố gắng hết sức mình của mình. Các quyết định thường chỉ được đưa ra sau khi tham khảo với mọi người trong nhóm. Nhất trí không bao hàm mọi người phải đồng ý, nhưng phong thái đưa ra quyết định có tính tham khảo này bao gồm mọi thành viên của nhóm trong các buổi trao đổi tín liệu, củng cố tâm tư tình cảm của cả nhóm, và làm cho việc thi hành các quyết định trôi chẩy hơn. Sự hợp tác trong nhóm cũng thường được tập chú vào việc thi đua giữa tiểu nhóm này và tiểu nhóm kia… Các biểu tượng như đồng phục, bảng tên, huy hiệu và có khi cả bài ca được dùng để lên bản sắc cho tiểu nhóm để cả bên ngoài lẫn trong nhóm đều nhận ra. Tham gia sinh hoạt của nhóm, dù chính thức hay không chính thức, đều là một cách biểu tượng nói lên rằng cá nhân muốn được coi là thành phần của nhóm. Bởi vậy, những buổi la cà ở hàng quán sau giờ làm việc không những là cách trao đổi tin tức và xả “xú bắp” căng thẳng xã hội mà còn là dịp để nói lên một cách không lời (noverbally) ý muốn được tiếp tục thuộc về nhóm.

Ở Nhật Bản, làm việc trong một nhóm đòi người ta phải khai triển nhiều “kênh” thông đạt để tăng cường tinh thần liên lập của nhóm và cảm thức khác biệt với những người không thuộc nhóm mình. Còn các tương giao xã hội bên ngoài các nhóm này, tuy hiện đã trở thành một điều cần thiết trong xã hội hiện đại, nhưng nếu tương giao này ngắn ngủi hay tương đối vô nghĩa, như đi mua một tờ báo chẳng hạn, thì người ta vẫn duy trì sự ẩn danh. Trái lại, nếu thấy tương giao này tiếp diễn lâu dài, dù trong thương trường, trong hôn nhân, nơi làm việc hay khu xóm, thì người ta hết sức quan tâm để làm sao thiết lập cho bằng được những liên hệ tốt và lâu bền. Các mối liên hệ này thường bắt đầu nhờ dùng mạng lưới thân nhân, bè bạn hay đồng nghiệp là những người sẵn sàng giới thiệu họ, làm trung gia mối lái (nakodo) cho họ với người họ muốn. Mối lái tất nhiên xẩy ra nhiều trong lãnh vực hôn nhân, nhưng trong các lãnh vực khác vẫn không thiếu. Việc của họ là tìm hiểu bối cảnh gia đình, chuyển tải các câu hỏi và phê phán, và làm trơn tru các trở ngại, khó khăn.

Lãnh vực tư

Địa vị liên hệ được coi là căn bản cho các tổ chức xã hội, và việc liên hợp với người khác được coi là đáng mong ước, nhưng các giả định này không hề triệt tiêu ý niệm bản ngã. Ý thức hệ hòa hợp với người khác không tự động tạo ra sự đồng quy của cá nhân với nhóm hay với mục tiêu của định chế.

Nhà nhân chủng học Brian Moeran phân biệt các thái độ đối với cá tính và chủ nghĩ cá nhân. Cá tính (individuality), hay tính độc đáo của một con người, không những được dung túng mà thường còn được ca ngợi nếu người đó được nhận là thành thực, hành động theo lương tâm. Một tác phẩm nghệ thuật chuyên chở những nét mạnh và đẹp là do “ cá tính” của nó. Tuy nhiên, chủ nghĩa cá nhân bị coi là tiêu cực, vì nó đồng nghĩa với vị kỷ, ngược hẳn với tương cảm là điều người Nhật hết sức trân quí. Dù đa số người Nhật ngày nay bác bỏ giá trị của ý niệm “seishin”, tức đức quên mình đến chấp nhận cái chết của các binh sĩ trong Thế Chiến II, nhưng lòng vị kỷ (nhất là lòng vị kỷ nơi các bà mẹ, là lòng vị kỷ được người Nhật coi là có ảnh hưởng tới sức khỏe thể lý và tinh thần của con cái), vốn được người ta gán cho đủ mọi thứ nan đề của xã hội đương thời. Các nan đề này bao gồm những bệnh được xếp loại là hội chứng tâm bệnh như hội chứng bếp núc (dadokoro shokogun) tức tình trạng các bà nội trợ, trước đây vốn tỉ mỉ, bỗng nhiên có những tác phong kỳ cục và than đau đầu đau lưng, biểu lộ sự chán nản thất vọng của mình bằng cách khước từ vai trò làm mẹ và làm vợ. Hay hội chứng khước từ trường học (toko kyohi), trong đó trẻ em kêu đau bụng, đau đầu để khỏi đi học, khỏi thất bại về đường học vấn và xã hội.

Giống mọi xã hội khác, Nhật Bản cũng có những tranh chấp giữa cá nhân và nhóm. Điều khác với xã hội Bắc Mỹ, không phải là việc người Nhật không có ý thức về bản thân mình mà đúng hơn, bản thân ấy được xác định qua tương giao với người khác, chứ không qua sức mạnh của nhân cách cá nhân. Theo Reischauer, “người ta không quan niệm một người Nhật, vốn có tinh thần hợp tác, sống bằng tương giao, như một sản phẩm vô vị của tác động hóa xã hội đến làm mòn hết mọi góc cạnh của cá tính, nhưng đúng hơn như một sản phẩm của lòng tự chế nội tâm đầy kiên vững khiến họ khuất phục được… bản năng phản xã hội…. Tính hợp khuôn theo xã hội của họ… không phải là dấu chỉ yếu nhược mà đúng hơn chính là sản phẩm đầy tự hào và tôi luyện của sức mạnh nội tâm”. Sự khuất phục này đạt được là nhờ thắng vượt khó khăn bằng tự kỷ luật chính mình, cố gắng bản thân nhằm sự hoàn thiện, điều mà họ biết là không thể thực hiện được nhưng lúc nào cũng là một mục tiêu đáng vươn tới. Với tầm nhìn này, cả bản thân lẫn xã hội đều thăng tiến, và thực sự có tương quan qua lại với nhau vì lý tưởng toàn thành bản thân (selfhood) mà người Nhật nào cũng cố gắng nhắm tới chính là lý tưởng trong đó quan tâm tới người khác là điều rất quan trọng. Theo David W. Plath, trong khi người Mỹ cố gắng vun sới một bản ngã độc đáo, thì đa số người Nhật đặc biệt nhấn mạnh tới việc vun sới “một bản ngã biết cảm nhận điều nhân bản trong tình liên hợp với người khác”. Sự trưởng thành chín chắn vừa có nghĩa tiếp tục quan tâm tới điều người khác cảm nghĩ vừa có nghĩa cảm thấy tự tin vào khả năng phán đoán và hành động hữu hiệu của mình, vừa nhìn nhận các qui phạm xã hội vừa trung thực với chính bản ngã mình.

Lãnh vực công

Khó có thể hiểu được quan điểm của người Nhật về trật tự xã hội nếu không xét tới ảnh hưởng của Khổng Giáo bởi vì trước khi chịu ảnh hưởng của Trung Hoa vào thế kỷ thứ 6, nước Nhật không hề có một xã hội có tầng lớp. Khổng Giáo nhấn mạnh tới sự hòa hợp giữa trời, đất và xã hội con người nhờ việc mọi người biết chấp nhận vai trò xã hội của mình và góp phần vào trật tự xã hội bằng chính tác phong của mình. Câu người ta hay trích dẫn từ Sách Đại Học là câu này: “tu thân, tề gia, trị quốc bình thiên hạ”. Câu này cho thấy phẩm trật là điều tự nhiên. Sự khác nhau trong địa vị gần như xác định ra mọi tương giao trong xã hội. Tuổi tác, phái tính, trình độ giáo dục, và nơi làm việc là những dị biệt hướng dẫn việc tương giao trên. Không biết hậu cảnh của người khác, thì tuổi tác và phái tính là các hướng dẫn duy nhất cho cá nhân. Người Nhật không mấy thích giao tiếp với người lạ, để tránh sai lầm về xã giao. Danh thiếp năng được trao đổi ở Nhật, làm phương tiện qúy giá cho việc giao tế trong xã hội, vì chúng cung cấp khá nhiều tín liệu về người khác giúp cho việc giao tế xuông xẻ. Nhà học giả về Nhật Bản Edwin O. Reischauer nhận định rằng trong khi người Mỹ có khuynh hướng hành động để giảm thiểu hóa các dị biệt về địa vị, thì đối với người Nhật, nếu một ai đó không xử sự đúng theo địa vị của mình, thì quả là vụng về, có khi còn bất xứng nữa.

Ngôn ngữ Nhật là một ngôn ngữ phẩm trật, dồi dào phương tiện giúp người ta biểu lộ các dị biệt về địa vị, và do đó, cho thấy phẩm trật là điều tự nhiên. Người Nhật có cả một ngữ vựng phong phú gồm các hạn từ mô tả danh dự hay thân phận hèn mọn, vì chúng cho thấy địa vị của người ta. Đàn ông và đàn bà sử dụng cách ăn nói hơi khác nhau: đàn bà thường dùng lối nhã nhặn, lễ phép hơn. Người ta có thể nhận dạng hạn từ nào đàn bà hay dùng và hạn từ nào đàn ông hay dùng. Giống người Việt chúng ta, nhân xưng đại danh từ ngôi thứ nhất số ít mà tiếng Anh vỏn vẹn chỉ là “I”, thì người Nhật tùy theo hoàn cảnh, phái tính và địa vị của mình mà thay đổi khác nhau. Tóm lại, bất cứ nền văn hóa nào chú trọng tới tương cảm, thì người nói không thể lên tiếng nếu không có sự chú trọng tới người khác.

Hạn từ phẩm trật hàm nghĩa có sự xếp hạng các vai trò, cũng như hàm nghĩa có những qui luật cứng ngắc và nền hành chánh của Nhật cũng phản ảnh triết lý này. Tuy nhiên, ở đây, người ta thấy có sắc thái độc đáo mà nhà nhân chủng học Robert J. Smith gọi là “trật tự khuếch tán” (diffuse order, không tập quyền). Thí dụ, trước thời hiện đại, các nhà lãnh đạo địa phương được ban cho nhiều quyền tự trị, nhưng để đáp lại họ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về công việc của địa phương. Thời hiện đại của Nhật cũng thế, trách nhiệm thì có tính tập thể và thẩm quyền thì có tính khuếch tán. Một người nào đó xem ra trọn quyền điều khiển, nhưng thực tế, bị cột vào một mạng lưới liên lập của nhóm cũng nghiêm ngặt như những người xem ra là cấp dưới của ông hay bà ta. Vì thế, việc lãnh đạo không đòi phải có một cá tính mạnh mẽ và các kỹ năng quyết định bén nhậy, nhưng đúng hơn phải biết nhậy cảm đối với tâm tư người khác và kỹ năng môi giới. Ngay đầu thập niên 1990, người ta vẫn mong các nhà lãnh đạo nên nhận trách nhiệm đối với những vấn đề lớn do nhóm của mình gây ra mà từ chức, dù họ không trực tiếp dính líu vào hoàn cảnh này.

Tại Nhật, địa vị dựa trên các mối liên hệ đặc thù giữa các cá nhân, thường là các liên hệ tùy thuộc nhau về phương diện xã hội giữa những người có địa vị không bằng nhau. “Giri” (nghĩa vụ), tức cảm thức trói buộc phải có đối với người ta mang ơn, đòi ta phải có tác phong tôn kính và sau cùng đền đáp công ơn, và việc đền ơn này khích lệ các ân huệ tương lai. Các liên hệ tùy thuộc nhau về xã hội này cứ thế kéo dài bất tận, chính sự bất bình đẳng đã liên kết các cá nhân lại với nhau như thế. Bởi thế, qui luật của phẩm trật đã được chính mối liên hệ làm dịu đi. Diễn trình làm dịu này được người Nhật gọi là ninjo (cảm thương). Tiềm năng đối nghịch giữa “giri” và “ninjo” vốn là đề tài rất thường xuyên trong nền kịch nghệ và văn chương Nhật Bản. Dù giới trẻ Nhật Bản ngày nay coi ý niệm “giri” là lỗi thời, nhưng đa số vẫn cảm thấy căng thẳng khi phải làm điều nên làm dù không muốn. Trật tự xã hội sở dĩ hiện hữu được, một phần là nhờ mọi thành viên trong xã hội đều được liên kết trong mạng lưới liên lụy xã hội, ai cũng vừa nhận vừa cho.

Truyền thống tôn giáo và triết học

Các giá trị mô tả trên đây đã phát sinh từ một số truyền thống tôn giáo và triết học, cả từ trong nước lẫn từ bên ngoài du nhập. Xét gộp lại, các truyền thống này có thể được xem như thế giới quan của người Nhật, dù niềm tin bản thân của từng người Nhật có thể khiến họ tiếp nhận điều này mà loại bỏ điều kia. Xét như thế, ta thấy thế giới quan của người Nhật có tính chiết trung, tương phản với thế giới quan Tây Phương trong đó, tôn giáo có tính độc hữu và xác định ra bản sắc người ta. Xã hội đương thời của Nhật là một xã hội thế tục cao độ. Các liên hệ nhân quả thường đặt căn bản trên các mô thức khoa học, và bệnh tật cũng như chết chóc được giải thích theo các lý thuyết y khoa hiện đại. Ấy thế nhưng, quan điểm khoa học cũng chỉ là một trong những lựa chọn được cá nhân dùng để giải thích các kinh nghiệm sống của họ.

Thế giới quan Nhật Bản cũng có đặc tính nữa là cách tiếp cận có tính thực tiễn trong việc giải quyết các vấn đề, trong đó, kỹ thuật không quan trọng bằng kết quả. Do đó, người Nhật nào bị bệnh, họ đều có thể vừa đi bác sĩ y khoa, vừa đi “hốt” thuốc của một đông y sĩ hay đến một đền miếu nào đó để cầu kinh. Mỗi hành động này đều dựa vào một niềm tin khác nhau về nguyên nhân tạo ra cơn bệnh: tây y sĩ có thể cho hay, cơn bệnh là do nhiễm trùng gây ra; đông y sĩ thì có thể nói rằng cơ thể mất thăng bằng hay quân bình; đền thờ có thể bảo: tâm trí người ta cần được thanh tẩy thì cơ thể mới lành mạnh. Ở Tây Phương, các lối giải thích ấy thường được coi là loại trừ lẫn nhau, nhưng một người bệnh Nhật Bản có thể cùng một lúc tiếp nhận cả ba lối giải thích ấy mà không thấy có gì mâu thuẫn cả. Cũng vậy, một học sinh đang dọn thi vào đại học hiểu rất rõ rằng không chịu khó học tập một cách ngoại thường thì cổng đại học sẽ không bao giờ mở ra cho mình. Nhưng cậu hay cô ta vẫn cứ tới một ngôi chùa hay một ngôi đền đặc biệt để xin thế giới thần linh phù giúp sự thành công của mình.

Gốc rễ thế giới quan trên do nhiều truyền thống khác nhau mà có. Thần đạo, tôn giáo bản địa duy nhất của Nhật, tạo nền. Khổng Giáo, phát xuất từ Trung Hoa, đem tới các quan niệm phẩm trật, chữ trung, và hoàng đế như con trời. Lão Giáo, cũng phát xuất từ Trung Hoa, giúp đem lại trật tự và chế tài cho hệ thống cai trị vốn tiềm tàng trong Thần Đạo. Phật Giáo không những đem tới khía cạnh chiêm niệm mà còn là nền văn hóa phát triển cao về nghệ thuật và đền thờ, rất ảnh hưởng tới cuộc sống công cộng. Kitô Giáo bơm vào nhiều ý niệm Tây Phương, nhất là công bình xã hội và canh cải. Chỉ có điều, nhiều xã hội khác cũng thừa hưởng đủ thứ truyền thống như thế, nhưng đâu có xã hội nào tổng hợp một cách sống động và nhuần nhuyễn được như xã hội Nhật Bản. Đã đành xã hội này cũng có những sâu mọt như bất cứ xã hội nào khác, nhưng đại đa số các thành viên của nó đã chứng tỏ được bản chất tích cực thực sự của nó, dù là trong một hoàn cảnh bị thử thách đến cùng cực như cuộc động đất và sóng thần ngày 11 tháng 3 vừa qua. Do phép lạ hay do tâm thức người dân Nhật?
Vũ Văn An

Thứ Ba, 8 tháng 3, 2011

Chuyện tôi làm giàu ở Mỹ

Tôi thì không nghĩ là mình thành công nhưng trong công ty họ lại gắn cho tôi cái nhãn hiệu đó. Riêng tôi biết rõ mình là ai và khả năng của mình đến đâu, thì ôi chao sao mà ngao ngán cái ngày mọi người biết mình chỉ là một anh khờ gặp may!

Ở thời gian này máy vi tính mới còn thô sơ, nhưng mẫu máy căn bản mới thành hình. Tôi tập tành lắp ráp máy tính và bán lẻ, lợi nhuận khá cao. Tôi bắt đầu tìm tòi về điện tử qua sự hướng dẫn của các bạn bè. Kinh nghiệm thực tế tôi có nhưng để tiến xa hơn tôi quyết định đi học, 2 năm ngồi ở college và tiếp tục lên cao hơn rồi tôi cũng có bằng kỹ sư. Nhưng có điều buồn cười là người khác học thì gần như đậu A còn tôi đậu C. Có nghĩa là cái bằng của tôi chẳng có ma nào thuê tôi làm việc mà có được thuê thì cũng chỉ là một anh cán sự chứ khó để làm kỹ sư.

Mặc dù thế nhưng chẳng lẽ học kỹ sư mà lại làm cán sự, coi sao được, nên tôi lại phải lên kế hoạch để làm kỹ sư cho bằng được. Tôi biết rằng có những đoàn của các công ty đến San Jose để tuyển nhân viên, và thông thường họ hay ở tại cái khách sạn Holiday INN góc đường số 1 và cầu vượt xa lộ 101. Biết rằng mình kém cỏi, tôi tự biết mình chẳng có cơ hội để được tuyển chọn.

Khi biết có các đoàn chuyên gia về làm việc, tôi nhờ bạn tôi giữ cho tôi một căn phòng xen kẽ với họ. Mục đích của tôi là phải tìm cách tiếp cận được với bất cứ đoàn nào, khi họ đi ăn sáng. Tôi cũng đi theo và cố tìm bàn ngồi gần họ và cố gắng ngày nào cũng tìm cách chào bất cứ ai mà tôi gặp. Good morning rồi cười duyên một phát và biến. Buổi chiều tối cứ khoảng 9 giờ là tôi lại xuống bar ngồi một mình chờ họ đến ngồi gần, vài ly rượu, hay ly beer tôi cố làm ra vẻ phóng khoáng và bắt chuyện với họ. Sau hai ngày thì tôi đã quen được vài nhóm.

Đến ngày trọng đại, tôi đến trường thật sớm và chờ đợi. Khi thấy họ đến từ xa thì tôi cũng từ từ tiến lại. Dĩ nhiên đã quen nhau thì phải chào nhau. Khi biết tôi đi tìm việc, một chuyên viên của nhóm đã nhìn tôi ái ngại khi nhìn học bạ của tôi rồi sau vài câu phỏng vấn ngoài lề, ông ta nhận hồ sơ của tôi và hẹn sẽ gọi cho tôi. Tôi ra về chẳng chút hy vọng gì.

Buổi trưa tôi cũng gặp lại ông ta, hoàn toàn không đả động đến chuyện nộp đơn sáng nay. Sau cùng thì ông hất đầu ra dấu cho tôi sang ngồi cùng. Ông nhìn tôi mỉm cười bằng cái nhìn tinh quái rồi nói: You are good. I like your game và thân thiện hỏi tôi: anh tốn bao nhiêu tiền khách sạn? Tôi cười tiu nghỉu trả lời : 450 USD vì hiểu là bị ông ta lật tẩy rồi. Ông vẫn hỏi: Tôi chỉ ngạc nhiên khi anh là một sinh viên tại sao anh lại ở chung khách sạn với chúng tôi trong thời gian này? Tôi cũng hóm hỉnh trả lời ông: Thật ra tôi đến ở khách sạn là để tìm một mối quan hệ vì với điểm đậu của tôi thì tôi chẳng có chút hy vọng nào được các ông để mắt tới, chứ đừng nói là được phỏng vấn.

Ông cười và hỏi tiếp: thế anh có tìm được quan hệ nào không? Tôi lại ngổ ngáo trả lời: ít nhất tôi chưa phải thất vọng, vì ông là quan hệ đầu tiên của tôi. Việc ông nhận hồ sơ của tôi sáng nay, đang thắp sáng niềm hy vọng của tôi. Ông cười lớn và nói nhỏ: đừng hy vọng nhiều vào tôi, sao anh không nghĩ là tôi chỉ không muốn anh bị chạm tự ái? Tôi lấy hết can đảm để bắn phát đạn cuối cùng: Tôi tìm đến khách sạn này là vì trực giác, tôi gặp ông cũng do trực giác và tôi biết là sau này cũng chính ông là người dẫn dắt tôi. Tôi xin ông đừng bố thí mà chỉ xin ông nhìn trong mắt tôi đang chứa đầy sự háo hức được làm việc và tôi biết là ông sẽ nhận tôi. Ông làm mặt giận và nói: bull shit và cả hai chúng tôi đều phì cười.

Nhưng cũng chính vì cuộc nói chuyện này mà con đường công danh của tôi lại chuyển sang một nghề khác. Ngày hôm sau ông nói với tôi ở phòng ăn: Tôi không thể nhận anh trong dịp này, nhưng tôi nhận anh theo cách thông thường như anh nộp đơn từ công ty và khi được nhận, tôi sẽ có thư thông báo. Một tháng sau, tôi lên đường đi Ohio làm việc. Tôi được nhận với vị trí kỹ sư cơ xưởng.

Hình như mỗi người đều có số mệnh riêng

Làm việc được 6 tháng thì hãng quyết định đóng cửa phân xưởng mà tôi làm việc. Khi nhận được cái check cuối cùng và vé phi cơ trở về nguyên quán, tôi tìm đến thăm người thày tốt bụng. Trong lúc chưa nói câu giã từ thì tôi thấy trên bảng ghi: Công ty có chương trình tuyển 25 Salemen để làm marketing, không cần kinh nghiệm và sẽ được huấn luyên tại trường huấn luyện của hãng trong 24 tháng.

Nhìn tôi chăm chú đọc thông báo ông Budd đã nghi ngời hỏi dò tôi: Anh không định xin qua làm marketing đó chứ? Tôi chẳng dấu giếm gì hết và nói ngay: marketing là ngành mà tôi yêu thích. Ông có thể cho tôi một chỗ không? Nheo mắt nhìn tôi ông hỏi: Liệu mày có theo được không? Tôi cũng dí dỏm trả lời: Ông còn nhớ lần nói chuyện của tôi và ông. Ông không nghĩ là tôi đã làm công việc tiếp thị và chinh phục ông mướn tôi khi tôi chỉ tốt nghiệp điểm C? Một lần nữa tôi lại thắng.

Hai năm tu nghiệp về marketing đã cho tôi biết bao kinh nghiệm sống và làm việc. Học xong tôi được chuyển về chi nhánh của công ty tại Century City, chỉ cách Bervely Hill chỉ một con đường. Thời điểm này một số các công ty lớn chuyên về retail có ý định thay đổi hệ thống máy tính (point of sale) và tôi khá thành công trong việc tiếp cận với khách hàng. Các hãng sản xuất tranh nhau tiếp thị và dùng đủ mọi cách để giữ khách hàng, mặc dù vậy tôi cũng thành công khi có một số lớn các accounts của chi nhánh và từng được tuyên dương là "Nhân vật của năm". Rồi một chuyện tình cờ làm tôi nổi danh hơn, làm tôi cảm thấy mình giống như nhân vật Vi Tiểu Bảo trong truyện Trung Quốc. Câu chuyện thật khó tin nhưng là chuyện đã xảy ra.

Số là một retail store tại khu vực Los Angeles mua và thay thế toàn bộ hệ thống máy tính tiền. Ba tháng đầu tiên hệ thống chạy rất tốt nhưng sau đó thì trục trặc liên tiếp.

Trở ngại là: Trước khi cửa hàng mở cửa hệ thống toàn bộ không hề có dấu hiệu trở ngại, nhưng khi cao điểm (có khách hàng đông) là máy chủ bị tê liệt. Rất nhiều kỹ sư được gửi đến để sửa chữa, nhưng bất kể họ làm gì máy chủ vẫn chứng nào tật ấy. Tình trạng gây ra làm khách hàng nổi giận và đòi huỷ hợp đồng. Tất cả các mạch chủ đều được thay mới. Hệ thống dây cable được kiểm soát lại và tất cả gần như hoàn thiện. Sau vài tuần trở ngại liên tục xảy ra, tôi đã phải đến để ghi nhận sự việc kỹ thuật trục trặc để làm báo cáo. Viễn cảnh bị mất khách hàng và hậu quả của việc đánh mất khách hàng làm tôi nổi cáu. Trong phòng chứa máy chủ, chỉ có mình tôi, rồi không dằn được bực bội, tôi tức giận đá vào thân máy liên tiếp hàng chục cái và rồi mắt tôi sáng ra khi thấy xác một chú chuột nhắt đã khô rơi xuống đất.
Tôi bắt đầu kiểm tra lại hệ thống dây và sau gần 3 giờ tôi phát hiện ra chỉ duy nhất có một sợi bị chuột gặm nhấm đứt gần quá nửa. Tôi cắt bỏ đoạn bị cắn và nối lại. Ôi sung sướng làm sao toàn bộ hệ thống chạy như chưa bao giờ bị hỏng. Tôi thông báo với engineer deparment bộ phận có trách nhiệm sửa chữa với lý do : một mạch điện bị lỏng. Tôi thì không nghĩ là mình thành công nhưng trong công ty họ lại gắn cho tôi cái nhãn hiệu của người thành công. Riêng tôi khi biết rõ mình là ai và khả năng của mình có những gì, thì ôi chao sao mà ngao ngán cái ngày mà mọi người biết mình chỉ là một anh khờ gặp may!!!

Giải thích: sợi dây điện vì bị chuột cắn mất quá nửa, nên khi hệ thống máy con chưa sử dụng, nó vẫn đủ sức tải, nhưng khi có nhiều máy cùng chạy, dòng điện mạnh hơn, làm dây nóng và cắt mạch. Mặc dù các kỹ sư có đến và đo lại tất cả các dây, nhưng khi đo nguội thì mạch điện vẫn liền, đó là tại sao không tìm ra nguyên do máy không chạy khi cao điểm.

Thăng trầm

Như tôi đã kể ở đoạn trên là tôi sớm có một số tiền, vì may mắn có công việc làm sớm nhưng tôi lại tham lam khi thấy bạn bè tôi thành công vì cổ phiếu. Tôi liều lĩnh muốn ăn mẻ lớn, nên vào một ngày thức dậy tôi mới biết qua đêm thức dậy thấy mình trắng tay. Tôi bị shock khá nặng, và xin nghỉ một tháng để “hưởng thụ”.

Sẵn còn vài ngàn vừa lãnh xong, tôi điên lên và cương quyết phải đốt cho bằng hết, cứ thích gì thì làm cái đó. Cái tôi thích nhất là đi ăn sushi bar và ông bạn người Nhật (là một khách hàng địa ốc mà tôi chọn lọc, tôi đến đây cũng chính vì tôi từng theo sát ông trong những ngày chưa xảy ra sự cố thị trường chứng khoán bị sụp đổ) thời gian này trở thành bạn nhậu của tôi.

Thân nhau hơn, và vì biêt tôi vừa bị phá sản về chứng khoán, tôi được ông mời đến nhà chơi và sau cùng thì ông cũng còn biết tôi là một real estate broker. Có thể ông muốn giúp tôi nên ông ngỏ ý muốn bán một plaza với giá 32 triệu USD, và hỏi tôi có thể list lên market cho ông không? (Ông cũng không ngờ rằng;để tiếp cận được với ông tôi đã mất khá nhiều công lao).

Dĩ nhiên là tôi rất vui mừng vì mục đích đã thành công. Bây giờ lúc đi vào hợp đồng. Thoả thuận hoa hồng 10%. Thời hạn hợp đồng một năm. Sau đó vì những xáo trộn liên tiếp xảy ra cho thị trường địa ốc, tôi cũng không có nhiều hy vọng có thể bán được, nên tôi hợp tác với một broker khác cùng ra sức bán với tôi. Tôi cũng phải nói thêm, tôi không là broker thường xuyên của thị trường địa ốc bình thường, mà chỉ chuyên về tài sản địa ốc bị foreclosure, nên cơ hội có khách mua tài sản có giá trị lớn cũng bị giới hạn. Nhưng số may của tôi vẫn còn nên chỉ bảy tháng sau, tôi bán được, nhưng không phải bán cho thị trường nột địa Mỹ, mà thân chủ của tôi lại là một triệu phú người Anh. Vì vậy tôi hưởng trọn tiền hoa hồng mà không phải chia cho ai.

Vài tháng sau bốc đồng tôi nhảy sang làm việc cho một hãng khác, cũng trong ngành sale, công việc mới đòi hỏi tôi phải ra nước ngoài những quốc gia nằm trong lãnh thổ mà tôi có nhiệm vụ phát triển thị trường cho công ty mới. Tôi bận rộn quên đi chuyện bán cái plaza của ông bạn người Nhật. Nhưng 9 tháng sau đó tại London, tôi có dịp cùng tham gia một cuộc họp công nghệ với đối tác tại đây. Sau buổi họp này có một vị hỏi tôi về tình hình địa ốc tại Mỹ, sau đó ngỏ ý muốn tìm mua một bất động sản để kinh doanh. Tôi chợt nhớ đến cái plaza của ông bạn Nhật. Đêm đó tôi gọi về Mỹ và yêu cầu ông bạn người Nhật gửi thư phát nhanh cho tôi toàn bộ thông tin về cái plaza này. Tôi không thể ngờ được là chỉ 15 ngày sau, vị khách có mặt tại sân bay San Francisco, chỉ 1 tuần sau chính thức ký hợp đồng mua bán. Mặc dù không bán được 30 triệu nhưng giá bán củng mang lại cho tôi một khoản hoa hồng khá lớn, 2,7 triệu USD, một con số có nằm mơ cũng không nghĩ đến được.

Nhưng thật sự tôi đang có số tiền đó, không tin cũng chẳng được, con số lợi nhuận quá lớn từ địa ốc làm tôi suy nghĩ lại, và quyết định bỏ nghề chuyên môn và đi chuyên ngành về địa ốc. Thời điểm này lại là thời kỳ hưng phấn của địa ốc, nhà không có để bán, chỉ cần treo bảng có khi buổi sáng đến buổi chiều đã có thể kiếm chục ngàn dollars. Với số tiền sẵn có tôi mua nhà liên tục và bán cũng liên tục. Có lúc tôi mua đến 16 căn nhà Shapell đắt tiền với mục đích thắng lớn.

Nhưng lại nhưng phải không các bạn, đang say sưa với chiến thắng thì vào một buổi chiều đất trời rung chuyển, trận động đất to lớn đã làm cho toàn bộ thị trường địa ốc khựng lại. Ngay ngày hôm đó tôi bị mất 90.000 USD vì Escrow của tôi không đóng được, người mua bỏ hợp đồng trị giá 1,3 triệu USD mà mức lời của tôi là 90.000 USD. Liên tục các tháng sau đó chẳng ai mua và người ta thi nhau bán nhà. Tôi còn chút tiền mặt cầm cự nhưng với 16 căn nhà mà mỗi tháng tôi phải trả mortgages từ 2,5 cho đến 4 nghìn USD cho một căn. Chỉ ba tháng sau đó tất cả tiền tiết kiệm của tôi không cánh mà bay và cuối cùng tôi phải bán rẻ đi 12 căn chỉ còn giữ lại 4 căn làm vốn mà giá trị của cả 4 căn chỉ vào khoảng 1,2 triệu USD.

Tôi quyết định bỏ nghề quay lại làm kỹ sư, rồi vì không trông coi được tôi củng bán hết và mua một trang trại cũ có diện tích gần 1 arce với giá 600.000 USD ở thành phố Milpitas, CA. Thỉnh thoảng tôi vẫn hoạt động rời rạc trong lĩnh vực địa ốc. Rồi một hôm tôi lại nổi máu liều khi biết có một khu đất vùng New Jessey có diện tích 45 arces được rao bán với giá 850.000 USD, tôi quyết định mua ngay và vét đến đồng bạc cuối cùng để mua cho được. Mặc dù chưa hề biết nó nằm ở đâu (khi mua nhà đấu giá, bạn chỉ có 3 ngày để thanh toán). Mua xong tôi mới đi coi.
Mảnh đất này nằm cách trung tâm thành phố 65 dặm, và hiện do người thuê quản lý. Sau khi biết tôi là chủ mới họ đề nghị tiếp tục thuê lại và trả trước 2 năm tiền thuê với giá 7.000 USD/một tháng và hợp đồng là 15 năm. Dĩ nhiên là tôi đồng ý, tôi trở về San Francisco tôi làm thủ tục vay ngân hàng. Số tiền tôi phải trả hàng tháng là 5,200 USD. Như vậy tôi vẫn lời được 1.800 USD một tháng. (Khi vay tiền, ngân hàng có cho định giá tài sản, mặc dù tôi chỉ mua có 850.000 USD, nhưng theo bảng định giá miếng đất có giá trị 1.270.000 USD. Sự sai biệt là equity. Equity này cho phép tôi rút lại toàn số vốn đã bỏ vào và số nợ còn lại được chia ra trong 30 năm, mỗi tháng trả 5.200 USD cho đến hết 30 năm là xong).

Kể từ đó tôi không có nhiều dịp để tham gia vào thị trường địa ốc và an phận với những gì mình đã có. Rồi một ngày mới lại xảy đến cho tôi. Đúng vào ngày 4/7/1998,sau khi đi dự tiệc về, đường lên nhà tôi bị chặn lại. Cảnh sát cho biết là nhà tôi vừa bị cháy. Tôi gọi cho một anh bạn để xin ngủ nhờ, khi đến nơi tôi thấy anh bạn đang xếp ra bàn 2 cái ly và chai rượu vừa cười vừa đùa: Chúc mày vừa trúng số. Tôi đâm cáu vì nhà vừa bị cháy gặp thằng bạn quí lại mỉa mai. Làm tôi phát cáu nhưng nó vẫn cười hề hề và nói nhỏ: mày cứ chửi bố mày đi sáng ngày mai mày trở về nhà thì biết..

Sáng hôm sau tôi trở lại nhà tôi, cảnh tượng thê lương căn nhà to lớn chỉ còn lại 2/3 khói đen bám quanh nhà. Ở một góc sân vẫn có chỗ còn âm ỉ mồi lửa, và trước nhà tôi có hàng trăm người đang bu quanh. Người nào cũng cố bám lấy tôi và đề nghị cho họ làm người đại diện để làm việc với hảng bảo hiểm. Sau cùng tôi cũng chọn được một người. Việc đầu tiên là buổi sang họ mang lại cho tôi một tấm check của công ty bảo hiểm có trị gía 20 ngàn đô để tôi chi phí cấp thời, họ cũng mang đến hơn 10 người đến để liệt kê tài sản của tôi. Toàn bộ quần áo họ thu hết. TV, các loại máy đều bị thu gọn, mà quần áo là nhiều nhất.
Một chuyên viên nói với tôi: Chưa bao giờ tôi thấy ai có nhiều quần áo như ông! Thật ra chẳng phải là tôi có nhiều quần áo, mà chỉ vì tôi có thói quen cứ hàng tháng tôi lại đóng thùng gửi về cho thân nhân ở Việt Nam. Số quần áo này tôi mua ở chợ trời nên nhiều vô kể. Chẳng ngờ rằng trong bảo hiểm có điều khoản nói rõ: đối với vất dụng quần áo thì cứ một đổi một vì vậy kể cả miếng giẻ lau nhà cũng được tính lá 1 unit. Tổng kết Bảo hiểm phải đền cho tôi từ quần áo và các vật dụng khác và tiền sửa nhà lên đến trên 2,3 triệu USD. (Ghi chú: Bảo hiểm hoả hoạn, của tôi có Cover limit up to 3 triệu USD).

Tôi quyết định bán phần đất của khuôn viên được 1,7 triệu USD. Có thêm chút tiền tôi có ý định nghỉ hưu sớm. Nơi đầu tiên tôi nghĩ đến là về Việt nam. Nghĩ là làm, tôi mua vé về Việt Nam ngay sau đó vài ngày. Ôi chao Việt Nam vui quá và tôi ở lỳ đến 6 tháng. Tôi quay lại Mỹ sau 6 tháng, một cảm giác xa lạ chợt đến. 6 tháng tách xa cộng đồng làm như đã có những khác biệt quá lớn lao. Tôi vẫn phân vân không biết nên quyết định về hay ở lại Mỹ thì có anh bạn đang ở Việt Nam kệu réo: Mày ở lại Mỹ làm gì, về đây tao với mày mua chung miếng đất làm cái trang trại gần thành phố an dưỡng hưu trí cho rồi. Đột nhiên tôi thấy anh em họ hàng hiện ra. Có người giàu có, có người quá khổ, một lũ cháu dại, những quyến luyến thân tình.

Thế là tôi ok về Việt Nam.

Có thể bài viết trước tôi lấy cái tựa đề như vậy chưa hẳn là phù hợp. Có lẽ, tôi phải đặt cho câu chuyện một cách gọi nhẹ nhàng hơn, như may mắn đã đến với tôi như thế nào trên đất Mỹ mới là đúng. Gọi như thế nào có thể chẳng quan trọng gì, cái quan trọng là trong hai bài viết này tôi đã có dịp cùng chia sẻ với các bạn một câu chuyện thật đời người. Thành công cũng lắm, mà thất bại cũng nhiều.

12 câu tôi đúc kết dùng làm topic cho từng đoạn trong câu chuyện, chẳng phải ngẫu nhiên mà có. Nó được tôi rút gọn để chia sẻ với các bạn một điều: Sự thành công không căn cứ vào một điều nhất định nào, mà nó cần tất cả các yếu tố để thành công từ may mắn, gian truân, trí tuệ và cả độc ác nữa. Vì vậy mới có khi cứng phải cần mềm, và đừng mang cái tôi ra ca tụng. Đạo lý đòi hỏi con người phải công bằng. Đức tin là của trân bảo, nhưng đôi lúc lại chỉ là cát bụi vì vậy mới có dịu ngọt chớ nghe. Câu chuyện của tôi chấm dứt ở đây, vô cùng cảm kích các Bạn đã có những phản hồi ưu ái dành cho tôi.
Kính chào.
Charles Tran

Cơ duyên đầu tiên của tôi trên đất Mỹ

Độc giả Charles Trần - tác giả của bài viết 'Tôi làm giàu ở Mỹ thế nào' - chia sẻ về những ngày đầu tiên đặt chân lên đất Mỹ.

Kính gửi báo VnExpress,

Sau khi đọc lại một số các góp ý của bạn đọc, tôi vì rảnh rỗi nên viết tiếp phần còn sót lại của bài trước. Hy vọng bài này củng sẽ được quý báo đón nhận.

Trong bài Tôi làm giàu ở Mỹ như thế nào mặc dù muốn trải dài câu chuyện của tôi, nhưng lại cố tóm tắt, nên còn bị thiếu sót những đoạn vui nhộn. Vì vậy tôi cố hoàn thiện thêm phần này để các bạn có cái nhìn vào những khúc, đoạn mà trong bài trước còn sót lại. Tôi cũng dùng bài này để trả lời một số các bạn đã hỏi tôi: Trong sự thành công có may mắn đi kèm không? Câu hỏi của các bạn sẽ tìm được câu trả lời trong bài này. May mắn nếu có thì là một ân sủng, nhưng may mắn cũng chưa hẳn là tốt đâu. Vì may mắn luôn có tai hoạ đi cùng, cũng như làm sao nói được là mình đang gặp may mắn? Tôi sẽ cùng chia sẻ với các bạn về may mắn trong một bài khác.

Có bạn gợi ý kiến là tôi nên viết sách. Bạn đã không chịu nhìn rồi, vì đã là sách thì luôn không đúng sự thật, mà cho có đúng thì vẫn bị dễ dàng đào thải vì sự khác biệt trong môi trường cũng như nhân sinh quan của xã hội và thời gian. Tôi nhận được nhiều cổ vũ, vui thì có vui, nhưng tôi lại thấy rằng thì ra còn quá nhiều người chưa từng trải nghiệm.

Có một bạn khi nhận định về bài viết của tôi: “Đủ ăn đủ mặc là quí rồi”. Tôi thấy mừng cho anh bạn này vì anh ta là người sung sướng và không cần được chia sẻ về kinh nghiệm làm giàu. Giấc mộng của anh bạn ấy chỉ có vậy (!!)

Có anh: (BLOC) hỏi tôi về chuyện credit card và nghi ngờ rằng liệu có ai cho lấy tiền ra như vậy không và nếu làm như tôi thì ngân hàng làm sao có lãi. Anh bạn này cũng chẳng chịu nhìn chút nào, vì khi mức tín dụng đã cho anh, thì anh dùng cách nào là quyền của anh. Mỗi lần anh cash tiền ra anh phải trả cash advanced fee như vậy khi dùng thẻ là anh làm lợi cho ngân hàng chứ đêu có phạm luật như anh bạn nói đâu!

Còn anh nói đến dự án 1.000 mobile home park, là tôi đã làm cú lừa khách hàng, còn tôi gọi là chiến lược phát triển kinh doanh đấy anh bạn ạ. Chẳng ai lại đâm đầu đi mua chỗ đậu mobile home park tại một nơi chưa có dự án phát triển. Còn tôi lên dự án, có bài bản, có giấy phép kinh doanh. Mặc dù số tiền tôi bỏ ra ban đầu không lớn, nhưng lợi nhuận tôi bán đi thì gấp vài chục lần vốn tôi bỏ ra. Xin anh nhớ cho là tôi không xây dựng mobile home park, nhưng người mua lại của tôi họ vẫn kiếm lợi bằng dự án mà tôi khai sinh ra.

Ví dụ thứ nhất khi tôi nói về việc được cho 100 USD, tôi không gọi đó là thành công vì tôi chỉ làm có một lần. Tôi viết lên để so sánh cái góc độ liêm sẻ của con người, cũng như lòng tự tin nó được đánh giá cao đến đâu.

Tôi xin đựơc kết luận vắn tắt như sau: Trên diễn đàn này mục đích của người viết và cả người đọc là được chia sẻ, có những điều không áp dụng được cho người này, nhưng vẫn có thể áp dụng cho người khác. Kinh nghiệm của mỗi ngưởi trải nghiệm trên mục này nó như một mâm bánh, bạn hãy ăn miếng nào bạn có thể ăn nhưng đừng vội vã ăn hết và chê là không biết làm bánh.

Câu chuyện của tôi lại phải quay trở lại, với kỷ niệm của những ngày mới đến Mỹ. Câu chuyện này lại là tiền thân của câu chuyện: Tôi làm giàu trên đất Mỹ ra sao? Xin các bạn cho phép tôi vào cuộc nhé!

Một hôm tôi nhặt được tờ báo địa phương cũ trong phần quảng cáo tìm nhân sự có một hãng đóng tàu của thành phố đang cần tuyển công nhân lao động bao gồm: electrician, carpenter, và welder.Với vốn liếng tiếng Anh có hạn, tôi hiểu electrician là thợ điện, hay carpenter là thợ mộc nhưng welder thì tôi chịu, chẳng hiểu nó là cái quỉ quái gì nhưng tôi vẫn tự đến để xin việc.
Khi tôi đến văn phòng của hãng, điều khiến tôi không ngờ rằng hình như mọi người đều quen tôi. Một phụ nữ tiến ra và hỏi: anh có phải là Mr Trần, người Việt Nam, mới đến thành phố này? Tôi vừa gật đầu vừa run vừa rặn mãi mới ra được chữ “yes madam”. Thế là những tiếng “welcome to" thật thân thiện của họ dành cho tôi đã làm tôi bớt đi rất nhiều ngỡ ngàng. Sau khi biết tôi đến để tìm việc làm, họ cho tôi điền đơn vào một mẫu đã in sẵn và bảo tôi ngồi chờ. Khoảng 15 phút sau, một người da đen to lớn và chững chạc ra dấu cho tôi vào phòng bên trong, và ông đã rất lịch sự và tỏ ra thật kiên nhẫn khi đặt câu hỏi và nghe tôi trả lời bằng tiếng anh với ông. Sau cùng thì chúng tôi cũng hiểu nhau. Ông biết tôi cần việc làm nhưng không tin tưởng lắm về những điều tôi khai, còn tôi thì gần như quả quyết là tôi có thể làm cả ba công việc mà hãng đang cần. Ông gọi một nhân viên về quản lý nhân sự rồi ái ngại nhìn tôi và nói: Thợ điện đã hết chỗ, thợ mộc cũng vậy, chỉ còn welder vậy anh có muốn làm welder không? Thật tội nghiệp cho tôi đã không hiểu, thế mà khi người ta hỏi tôi lại thản nhịên gật đầu.

Một ngày kinh hoàng bắt đầu. Tôi được giao cho một mảnh giấy để đi xuống khu vực thi hành nghề. Khi đến nơi tôi mới hiểu: Chúa ơi nó là nghề thợ hàn mà cả đời tôi có biết hàn là gì đâu! Nhưng đã lỡ phóng lao thì phải theo lao. Tôi nhận được 6 miếng sắt và theo tiêu chuẩn của khảo sát là tôi phải hàn 6 miếng sắt lại với nhau ở những vị trí khác nhau. Flat weller - hàn trên mặt phẳng, horizental -hàn vị thế nằm ngang và over head - hàn qua khỏi đầu. Tôi mang 6 miếng sắt vào boot thi, miệng tôi trở nên đắng ngắt. Tôi chẳng biết mình phải làm gì, mà bỏ ra về thì không ổn, nên trong đầu tôi cứ suy nghĩ trăm phương ngàn kế chỉ làm sao ra khỏi chỗ này một cách bảo toàn danh dự. Chẳng biết là tôi có ở hiền không nhưng quả thật trời đã không phụ lòng tôi. Sau gần một giờ đồng hồ chôn chân trong cái boot vải và hút gần hết gói thuôc mang theo, thì ngay boot bên cạnh có một người khác vào thi. Ông ta chỉ cần 15 phút là đã xong. Người giám sát đi vào quan sát mối hàn và quyết định trình độ hàn của người thi.

Ngay sau khi người thi bên cạnh này bước ra, tôi đã có kế thoát thân bẳng cách lén lấy những thanh sắt mà người kia đã hàn mang sang bên boot của tôi rồi cũng mời giám thị vào để xét nghiệm. Ông ta coi xong rồi hý hoáy vài hàng chữ vào tờ giấy của tôi bảo tôi mang trả lại phòng nhân viên. Mục đích của tôi chỉ là để có kế thoát thân trong danh dự thế mà khi tôi trao miếng giấy cho ông trưởng phòng nhân viên ông ta đã rú lên: Tuyệt quá, quá tuyệt anh bạn trẻ ơi. Chúc mừng anh, anh được nhận làm thợ hàn loại một (first class welder). Nghe ông ta nói mà tôi bủn rủn cả chân tay. Tôi nào có muốn làm thợ hàn loại một, chẳng qua là tôi chỉ muốn có cớ để cho xong việc làm dại dột của mình. Tuy thế vẫn chưa kinh hoàng nếu so với lúc ông ta bốc phone gọi cho đài truyền hình và thông báo: Người công dân mới của thành phố đã được hãng nhận với vị trí chuyên viên hàn hạng một.

Đến nước này thì thôi đã phóng lao đành phải theo lao, bất quá ngày mai mình lấy cớ không thích nghề hàn và không đi làm thế là ổn (tôi tự an ủi). Nhưng lại kinh hoàng hơn khi về đến nhà thì đã thấy người bảo trợ tươi cười bắt tay và nói: Chúc mừng anh, tôi vừa được phone của hãng đóng tàu và đài truyền hình cho biết là anh đã thành công hoàn tất welding test, và sẽ đi làm ngày mai. Để mừng cho tôi ông bà bảo trợ cho lục tung tủ lạnh và lấy hết thực phẩn ra làm một bữa "cook out" với mấy người hàng xóm tham dự. Tới giờ ngủ, tôi còn nghe ông bảo trợ dặn dò: anh phải dậy lúc 4 giờ sáng, tôi sẽ chở anh đi làm và buổi chiều sẽ đón anh! Cả đêm ngủ không được, tôi chỉ mong 4 giờ sáng đừng bao giờ đến nhưng sao đêm nay nó lại ngắn thế chỉ trở mình vài cái là đã bị ông bảo trợ đánh thức và bị đưa tới nơi kinh hoàng nhất của tôi. Vì là thợ loại 1 nên tôi được phân công trên tầng 7 của chiếc tàu đang đóng, tôi được giao cho những chiếc đũa hàn to bằng ngón chân cái và một blue print ghi rõ những phần việc mà tôi phải hàn.

Sau cả tiếng đồng hồ kéo giây hàn, tôi đã chuẩn bị cho giờ phút mà tôi bị đuổi ra khỏi hãng vì không biết hàn. Thế nhưng ở đời vẫn có những cái bất ngờ. Số là sau hơn 3 giờ đứng rồi ngồi và chỉ để hút thuốc, 10 giờ sáng người trưởng bãi đi kiểm tra công việc, khi thấy tôi chưa hàn mối nào thì lập tức ra dấu cho tôi theo ông ta xuống văn phòng điều hành. Một phép lạ đã xảy ra. Tôi đành thành thật trình bày những sự việc liên tiếp xảy ra từ khi tôi đến xin việc và cũng xin lỗi ông ta vì lỗi lầm mà tôi đã gây ra. Nói xong tôi ngạc nhiên khi thấy ông ta ôm bụng cười rồi bỏ ra ngoài. Tôi chẳng biết làm gì hơn, đang định đứng dậy đi về thì ông ta trở lại với một người khác và bàn giao tôi cho người này. Thế là ngày hôm đó tôi làm thợ vịn với mức lương thợ hàn loại 1, mức lương 14 USD một giờ. Đến 4 giờ chiều tôi bị mang trả lại cho phòng điều hành. Mặc dù chỉ mới là nhân viên có một ngày, nhưng môt ngày thật có giá trị với tôi, và biết rằng mình sẽ bị đuổi, nên tôi tỏ vẻ bịn rịn với anh thợ làm chung vì nghĩ mình chẳng còn cơ hội để làm thợ hàn thêm một ngày nào nữa.

Thế nhưng chuyện thần tiên lại vẫn xảy ra trong thế kỷ 20 này đó các bạn. Sau khi trở lại phòng điều hành, người trưởng bãi cho tôi biết là tôi không bị đuổi và đề nghị tôi theo học một khoá học chuyên ngành hàn do hãng đào tạo. Thời gian học là 6 tháng và tôi vẫn được hưởng lương thợ hàn loại 1 trong suốt quá trình khoá học. Sau này tôi mới biết là người trưởng bãi từng là phi công trực thăng và đã có thời gian tham chiến tại Việt Nam. Cái lý do để ông ta giúp tôi là vì tôi đã thể hiện được cái đàn ông tính. Viết đến đây tôi xin ngừng một phút để nhớ về ông Garry một người đã giúp tôi bước vào đời sống Mỹ. Theo như lời giải thích của ông Garry, thì công ty có nhu cầu sử dụng một số chuyên gia ngành hàn, có trình độ cao, và học viên được tuyển là do đốc công đề bạt. Chương trình được review và học lại từ đầu nên mới có sự may mắn xảy đến cho tôi.

Sau 6 tháng, tôi là một trong ba người có điểm đậu cao nhất (thủ khoa). Tôi bây giờ đã có tay nghề cao, để có thể hàn bất cứ một loại hợp kim nào từ đóng tàu cho đến hàn những ống nối nhỏ như ruột bút bi cho các hệ thống thí nghiệm. Với đồng lương 14 USD một giờ, thời điểm đó được gọi là mức lương khá cao. Một kỹ sư mới ra trường lương chỉ 12.000 đến 15.000 một năm. Những người không có nghiệp vụ lương tối thiểu chỉ có 2.75 USD/giờ. Vì sống trong một thành phố nhỏ, tôi biết để dành và tiết kiệm tối đa, nên chỉ sau vài năm trong tài khoản tôi đã có một số tiền tương đối. Nhưng đó vẫn là chuyện sau vài năm vì thời gian này tôi vẫn còn nhiều điều thú vị để kể cùng các bạn.
Để không bị gián đoạn những điều thú vị trong thời gian tôi đi học nghề hàn thì một tai nạn khác xảy ra cho tôi. Số là tôi ở thuê một căn hộ tại số 1900 Oldshell Rd, Mobile Alabama, căn nhà thật cũ, có 1 phòng ngủ và 1 phòng khách, với giá 70 USD một tháng. Chủ nhà là một thiếu phụ ở tuổi 60, hiền lành và rất đạo đức. Vào một buổi sáng tôi nhảy vượt bậc ở cầu thang, nên cái cầu thang cũ kỹ kêu rắc và gãy luôn. Hoảng quá, buổi chiều tôi về sớm và vội vàng đi mua gỗ, đinh vit để làm lại cầu thang mới, lại còn tìm cho đúng màu sơn để trả lại tình trạng cũ cho chủ nhà. Nhưng dù cố gắng đến đâu thì cũng không che giấu được sự khác biệt giữa cái cũ và cái mới. Nhưng chính cái cầu thang này lại tạo cơ hội cho tôi làm chủ đấy các bạn ạ.

Thật ra ở Mỹ, chủ nhà phải sửa chữa mọi hư hại, nếu vì cái cầu thang mà làm tôi bị thương tật thì bà chủ nhà khó tránh khỏi rắc rối. Vì tôi không hiểu luật, nên tự bỏ tiền và thời gian, tự sửa chữa và không dám than vãn về những hư hại của căn nhà, cứ hư cái nào tôi lại tự sửa cái đó. Và chuyện đến tai bà chủ nhà. Bà ấy đã rất cảm kích và khen tôi là super handyman và đề nghị tôi làm việc cho bà ấy. Một đề nghị quá tuyệt vời vì thời gian là tuỳ tôi, không gò bó. Tôi có nhiệm vụ trông coi 62 căn nhà của bà cho thuê nằm rải rác trong thành phố và tôi đồng ý ngay.

Tôi làm thợ sơn
Căn nhà đầu tiên bà yêu cầu tôi sửa chửa lại chính là căn nhà bà ta đang ở. Công việc chỉ là sơn lại bên ngoài của căn nhà. Bà cho biết là nhà thầu ra giá 550 USD tiền công, và hỏi giá của tôi là bao nhiêu? Tôi liều lĩnh ra giá 325 USD làm bà khựng lại nhìn tôi e ngại nhưng vẫn nói: Labor của anh quá thấp, nhưng anh cứ làm đi nếu lỗ thì cho tôi biết. Tôi không muốn anh bị thua thiệt.

Chiến lược của tôi
Vì đã có con số 62 căn nhà phải làm nên tôi đi mua ngay một máy phun sơn, và một máy phun cát. Tôi cũng không thuê ai phụ mà đích thân làm mọi việc. Với máy phun cát tôi chỉ tốn chưa đầy 2 giờ là bóc sạch lớp sơn cũ và thêm 5 tiếng để sơn toàn diện kể cả trimming. Với 325 USD, bạn chia cho 9 tiếng làm việc tôi có tiền công hơn 30 USD một giờ. Và dĩ nhiên tôi thật vui, thì bà chủ nhà của tôi củng thoải mái.. vì rẻ quá.

Thấy làm thợ sơn part time hơi ngon nên tôi tính đến việc thu tiền càng nhanh càng tốt. Vài hôm sau tôi đi kiểm tra tất cả số nhà còn lại, và tất cả đều phải sửa chữa. không nặng thì nhẹ, tôi lên kế hoạch tuyển nhân viên. Tôi tìm đến sở thất nghiệp và kín đáo gọi một số thanh niên Mỹ đang chờ lãnh tiền thất nghiệp, và thuê họ làm việc và trả tiền mặt 30 USD/một ngày. Vì đã trải nghiệm nên tôi biết rõ thời gian và chi phí cho từng căn nhà. Mỗi ngày nhân viên của tôi đông hơn và chỉ trong 3 tháng tôi thanh toán sạch sẽ 62 căn nhà.

Sau đó cũng do người chủ nhà của tôi đã giới thiệu tôi với hàng xóm và trong mắt họ tôi là người đáng yêu nhất, việc làm kỹ lưỡng mà giá thì quá rẻ, rồi nhà thờ và sau đó là cả một số các công sở, tôi thật sự nổi tiếng cho đến độ sở thuế sờ gáy tôi. Nhưng cái ông sở thuế làm việc với case của tôi lại là một vị khách mà tôi đã sửa nhà cho ông. Vì thấy giá quá rẻ thì chính ông ấy lại là người sau khi trả tiền công đã cho tôi thêm 50 USD vì sợ tôi bị lỗ. Tại bàn làm việc ông ta hỏi tôi: anh có lời nhiều không? Tôi vội lắc đầu: chỉ kiếm đủ tiền chứ chẳng là bao. Ông ta tin tôi thật nhưng khuyên tôi nên mở công ty làm dịch vụ, có kế toán để dễ dàng khai thuế. Thế là công ty Homeless Servive Company ra đời. Nghe cái tên cũng đã thê thảm nên chẳng có ma nào làm phiền tôi nữa, và cũng từ đó rất nhiều cơ quan trở thành thân chủ của công ty Homeless Servive.

Hình ảnh khó quên: Mặc dù gặp nhiều may mắn và có đồng ra đồng vào nhưng tôi có đời sống vô cùng khiêm nhường. Quần áo chỉ có 3 bộ, ba quần jean và mấy chiếc áo pull cũ kỷ, giày chỉ có hai đôi bata. Tôi làm chủ một chiếc xe hiệu Ford Falcon đời 1966, sơn thì loang lỗ, chỉ được cái máy thì bất kể thời tiết nào cứ nhích chìa khoá là máy nổ giòn ngay. Cũng chính vì cái xe này mà tôi đã vi phạm luật giao thông, chút xíu nữa là bị nằm ấp đấy. Số là sau khi mua được chiếc xe với giá vừa bán vừa cho, tôi vội vàng đi mua mấy bình sơn xịt và xịt túi bụi lên thân xe dù không đẹp nhưng vẫn dễ coi hơn lúc chưa sơn Thế là tôi thông báo với anh bạn ở cách tôi hơn 100 dặm là tôi đi thăm anh ta vào chiều thứ sáu sau khi tan sở. Tôi còn có lý do chính đáng hơn: khi anh bạn cho biết là có cô em gái mới về ở chung và "mày thích tao làm mai cho"!!!

Đường xa lộ ở Mỹ thì khỏi chê, ra khỏi exit, tôi vào xa lộ lòng đầy phấn khởi, chiếc xe tăng dần lên vận tốc 87-88 dặm một giờ mà tôi chẳng quan tâm. Tôi nghĩ trên xa lộ làm quái gì có cảnh sát nhưng rồi chỉ 40 phút sau, một chiếc trực thăng của cảnh sát bay rà trên đầu tôi và ra hiệu cho tôi ngừng lại. Thế mà tôi không hiểu lại còn vừa cười, tay lại ra dấu vẫy chào đón, xe vẫn không giảm tốc độ. Sau khi chạy thêm vài dặm tôi thấy trước mặt có 2 xe cảnh sát chận ngang và mấy khẩu súng đang chĩa vào xe tôi. Hoảng hồn, tôi vội vàng thắng lại rồi ngồi yên trên xe và nghĩ mình sắp đi ở tù..

Rồi màn khám xét bắt đầu. Bằng lái xe của tôi chỉ mới được cấp có 10 ngày, trong bóp tôi có đúng 47 USD, trên xe ngoài bình xăng vừa đổ đầy, chiếc bánh dự phòng xì lốp chưa kịp vá. Một sĩ quan cảnh sát hỏi tôi: anh có biết anh phạm lỗi gì không? Tôi lắc đầu. Ông ta hỏi tiếp: khi anh thi lấy bằng lái xe anh có hiểu là vận tôc chỉ được chạy 55 dặm một giờ không? Tôi lại lắc đầu và lắp bắp chẳng ra câu. Ông ấy bực bội hỏi lại: thế theo anh thì anh được chay bao nhiêu dặm một giờ? May quá tôi ngừng xe ngay cái bảng chỉ tên highway 98. Tôi lấy tự tin và trả lời: Xa lộ này tôi được chạy 98 dặm nhưng tôi mới chạy có 87, it was under limit still (vẫn dưới mức cho phép). Vừa nghe tôi trả lời xong, tôi nghe trong máy khuếch đại nhiều tiếng người cười rũ rượi. Viên sĩ quan cảnh sát nét mặt dịu lại, cầm cuốn sổ phạt ghi chép rồi đưa cho tôi: Vì anh không biết và chưa từng phạm lỗi, nên tôi cho anh giấy cảnh cáo, anh không bị phạt nhưng từ nay anh phải hiểu là toàn nước Mỹ này vận tốc di chuyển chỉ có 55 dặm, anh hiểu không? Tôi lý nhí cảm ơn nhưng để chắc ăn vị cảnh sát nhắc lại: anh hiểu 55 không? Rôi xoè bàn tay ra nhấn mạnh hai lần: Five –Five Ok. Và tôi cũng vội vàng Ok.
Thấm thoát thời gian trôi qua gần 3 năm. Có chút tiền tôi cũng nghĩ đến chuyện nâng cấp cho mình: mua một chiếc BMW mới, nghỉ vacation 1 tháng (3 năm không lấy vacation), mua cho mình bộ veston, mấy chiếc áo và vài cái quần mới. Và tôi thành người mới. Tôi lái xe một mạch từ Mobile đến California và không quên mang theo các chứng chỉ ngành hàn. San Jose lúc đó còn rất nghèo, người Việt Nam một phần lớn chọn nghề làm điện. Đàn ông thì học điện tử và làm technician còn phụ nữ làm assembly. Các hàng ăn uống chưa có, cuối tuần một vài người mở bán đồ ăn tại nhà. Thế mà vui đáo để. Gặp lại cộng đồng người Việt, lại có rất nhiều phụ nữ Việt chưa chồng, mầm mống của một cộng đồng đang dần thành hình. Tôi rời San Jose đi xuống miền nam California, người Việt còn đông hơn, nhà cửa thì còn quá rẻ, chỉ cần 15 ngàn là đã có thể mua một một căn nhà. Tôi vòng về Los Angeles, nơi nào cũng có người Việt. Điều đặc biệt là là quan hệ chủng tộc, cứ thấy người Việt là mừng rỡ.
Một tháng rong chơi cũng gần hết, nghĩ lại quãng đường trở lại miền đông sao mà xa quá. Tôi định trở lại San Jose lần cuối và không biết bao giờ trở lại nữa. Một lần đi lạc xuống đường Coleman, con đường này hình như bị hãng FMC chiếm ngụ gần hết. Tò mò tôi ghé vào thử lảm đơn xin việc. ( FMC là công ty sản xuất cơ khí quốc phòng như xe tăng và các loại xe hạng cơ giới khác. Họ cần rất nhiều thợ hàn). Tôi được phỏng vấn ngay và trong buổi phỏng vấn tôi trình những chứng chỉ ngành hàn mà tôi có, lập tức tôi được mướn ngay và không cần phải trắc nghiệm, với mức lương 19 USD một giờ. Họ yêu cầu tôi đi làm ngay. Thời gian đầu tôi tá túc ở nhà một người quen.
Cái tin một người Việt Nam làm nghề hàn có mức lương 19 USD một giờ bùng ra. Vài ngày sau có hàng chục người đền hỏi tôi: làm sao để học nghề hàn (?) Cũng trong tuần lễ cuối cùng ở San Jose trước khi dự tính trở lại Mobile Alabama, trong chuyến đi của tôi xuất hiện một bóng hồng và nàng đề nghị tôi đừng trở lại Mobile nữa. Thật ra 3 năm sống tại Mobile tôi cũng có nhiều níu giữ, nhưng sức mạnh ái tình làm tôi phải chọn một, và tôi liên lạc về hãng, xin nghỉ không lương 3 tháng rồi nhờ người bán lại công ty Homeless Services của tôi được 36.000 USD.

Ở thời điểm 78-80 mà có được trên 300 ngàn USD quả thật đó là tài sản lớn. Cô bạn tôi khuyên tôi trở lại đi học mặc dù với đồng lương thợ hàn khá cao nhưng khói bụi và tiếng ồn của cái công việc hàng ngày cũng làm tôi phải đồng ý bỏ nghề và chuyển hướng sang một nghề khác.
Còn tiếp
Charles Trần