Thứ Tư, 7 tháng 5, 2008

Chương II : Giao dịch với biểu đồ giá đỡ


Chương II : Giao dịch với biểu đồ giá đỡ

by Forex Gump



Chúng ta đã đề cập vắn tắt về biểu đồ giá đỡ trong bài trước, bây giờ chúng ta sẽ đi sâu hơn và bàn luận thêm về biểu đồ giá đỡ. Trước hết hãy ôn lại.


2.1 Giá đỡ là gì?

Cách đây hơn 200 năm, người Nhật đã sử dụng kiểu phân tích kỹ thuật của họ trong thị trường gạo. Kiểu phân tích này đã phát triển thành kỹ thuật giá đỡ hiện được sử dụng trên thế giới. Biểu đồ giá đỡ là một công cụ độc lập hữu ích. Biểu đồ giá đỡ có thể được kết hợp với các công cụ kỹ thuật khác để tạo ra một kỹ thuật khác. Sự phối hợp các giá đỡ có thể đưa ra một chu kỳ thống nhất. Ngoài ra, các giá đỡ có thể chỉ ra một biến động gía.

Các giá đỡ được hình thành bằng cách sử dụng giá mở, giá cao, giá thấp và giá đóng.

Nếu giá đóng trên giá mở ta có một giá đỡ trắng. Nếu giá đóng dưới giá mở ta có một giá đỡ đen. Phần chữ nhật trắng hoặc đen của giá đỡ được gọi là thân.

Các đường bên trên và bên dưới thân đại diện cho khoảng giá cao/giá thấp và được gọi là bóng (cũng được xem như là tim bấc và đuôi)

Giá cao được đánh dấu bởi đỉnh của bóng trên và giá thấp là đáy bóng dưới

Điều này cung cấp cho bạn thông tin quan trọng về động thái của giá và tạo thành bản chất của giá đỡ.


2.1.1 Long versus Short Bodies (Thân dài đối lập với thân ngắn)


Thân dài hơn chỉ áp lực mua hoặc bán mạnh hơn. Ngược lại các giá đỡ ngắn hơn chỉ sự biến động giá ít hơn và mô tả một sự do dự giữa tăng giá (đầu cơ, bulls) và giảm giá (bán tháo, bears). Bull là người mua, bear là người bán.

Các giá đỡ trắng dài hiển thị áp lực mua mạnh. Giá đỡ trắng dài hơn, hơn nữa giá đóng bên trên giá mở. điều này chỉ ra rằng giá tăng đáng kể từ giá mở đến giá đóng và người mua nhiều hơn. Nói các khác, người mua đang chống lại người bán.

Giá đỡ đen dài chỉ áp lực bán mạnh. Giá đỡ đen dài hơn, hơn nữa giá đóng bên dưới giá mở. Điều này chỉ ra rằng giá giảm nhiều từ giá mở và người bán nhiều hơn. Nói cách khác, người bán đang giành giật người mua.


2.1.2 Long versus Short Shadows (Bóng dài đối lập với bóng ngắn)


Bóng trên và bóng dưới cùa giá đỡ có thể cung cấp thông tin giá trị về phiên giao dịch .

Bóng trên mô tả phiên giao dịch cao và bóng dưới là phiên giao dịch thấp.

Giá đỡ với bóng ngắn chỉ rằng phần lớn hoạt động giao dịch được giới hạn gần giá mở và giá đóng.

Giá đỡ với bóng dài chỉ rằng hoạt động giao dịch được mở rằng so với giá mở và giá đóng.

Giá đỡ với bóng trên dài và bóng dưới ngắn chỉ rằng người mua chiếm ưu thế trong kỳ giao dịch và giá đặt mua cao hơn. Tuy nhiên, người bán sau đẩy giá xuống khỏi mức cao và giá đóng yếu tạo ra bóng trên dài.

Trong trường hợp khác, giá đỡ với bóng dưới dài và bóng trên ngắn chỉ rằng người bán chiếm ưu thế trong phiên giao dịch và khiến cho giá thấp hơn. Tuy nhiên, người mua sau đặt lại giá mua cao hơn vào cuối kỳ giao dịch và giá đóng cao (mạnh) tạo ra bóng thấp dài.


2.2 Basic Patterns (Các mẫu cơ bản )


2.2.1 Marubozu

Marubozu nghĩa là không có bóng trên thân. Giá thấp và giá cao được mô tả bởi giá mở và giá đóng

Một Marubozu trắng là một thân trắng dài không có bóng chỉ xu hướng đầu cơ (tăng giá).

Nó hình thành khi giá mở bằng giá thấp và giá đóng bằng giá cao. Điều này chỉ ra rằng người mua điều khiển hoạt động giá từ giao dịch đầu tiên đến giao dịch cuối cùng. Nó thường trở thành phần đầu tiên của một thời kỳ tăng giá kéo dài hoặc một mẫu chuyển sang hướng tăng giá

Một Marubozu đen là một thân đen dài không bóng. Nó hình thành khi giá mở bằng giá cao và giá đóng bằng giá thấp. điều này chỉ rằng người bán điều khiển hoạt động giá từ phiên giao dịch đầu đến cuối. Nó thường đưa đến thời kỳ giảm giá kéo dài hoặc đổi sang hướng giảm giá.

2.2.2 Spinning Tops

Giá đỡ với một bóng trên dài, bóng dưới dài và thân nhỏ được gọi là đỉnh xoay. Màu của thân không quan trọng lắm. Màu này chỉ sự giằng co giữa xu hướng tăng giá và giảm giá.

Một thân nhỏ chỉ sự biến động nhỏ giữa giá mở và giá đóng, và bóng chỉ rằng cả người mua và người bán tích cực hoạt động trong suốt phiên giao dịch. Mặc dù phiên giao dịch mở và đóng với một chút ít biến động, giá biến đổi đáng kể cao hơn và thấp hơn trong kỳ giao dịch. Cả người bán cũng nhu người mua không thể giành được quyền kiểm soát cao hơn và kết quả là tạm ngưng (giải lao, standoff).

Sau một giá đỡ trắng dài hoặc một giai đoạn tăng giá dài (tăng trưởng), một spinning top chỉ sự yếu đi giữa người mua và một thay đổi tiềm năng hoặc sự gián đoạn trong xu hướng.

Sau một giá đỡ đen dài hoặc một giai đoạn suy giảm dài, một đỉnh xoay chỉ sự yếu đi giữa người bán và một thay đổi tiềm năng hoặc sự gián đoạn trong xu hướng.

2.2.3 Doji

Đường Doji là mẫu với cùng giá mở và giá đóng.

Theo lý tưởng, giá mở và giá đóng nên bằng nhau. Một doji với giá mở và giá đóng bằng nhau sẽ được ưu tiên, điều này quan trọng để nắm được bản chất của giá đỡ.

Doji truyền đạt một khả năng của sự giành co hoặc cuộc tranh đua giữa người bán và người mua. Giá biến đổi trên và dưới giá mở trong suốt kỳ giao dịch, nhưng đóng tại hoặc gần giá mở. kết quả là sự tạm ngừng. Cả người bán và mua đều không thể giành quyền kiểm soát và điểm chuyển đổi có thể phát sinh.

Việc xác định tầm quan trọng của Doji sẽ phụ thuộc vào giá, biến đổi gần đó, và các giá đỡ trước đó. Liên quan đến giá đỡ trước đó, doji có một thân rất ngắn xuất hiện như một đường mởng. một doji hình thành giữa các giá đỡ khác với thân nhỏ (như đỉnh xoay) sẽ không được coi là quan trọng. Tuy nhiên, một doji hình thành giữa các giá đỡ với thân dài sẽ được cho rằng có nghĩa.

Có 04 kiểu doji đặc biệt . Chiều dài của bóng trên và dưới có thể biến đổi và giá đỡ trông nhu thánh giá, thánh giá đảo ngược hoặc dấu trừ. Từ “doji” ám chỉ cả dạng số ít hoặc số nhiều.


2.2.4 Doji and Trend (Doji và xu hướng)


Sư liên quan của một doji dựa trên xu hướng trước đó hoặc các giá đỡ trước đó. Sau một đợt tăng giá, hoặc một giá đỡ trắng dài, một doji báo hiệu rằng áp lực mua bắt đầu yếu.

Sau một đợt giảm giá hoặc một giá đỡ đen dài, một doji báo hiệu rằng áp lực bán bắt đầu hạ bớt. Doji chỉ rằng cán cân cung và cầu đang trở nên cân bằng và một biến đổi xu hướng sắp diễn ra. Chỉ riêng Doji thì không đủ để chứng tỏ một sự đảo chiều và cần phải có thêm các thông tin khác.



Sau một đợt tăng giá, hoặc một giá đỡ trắng dài, một một doji báo hiệu rằng áp lực mua bắt đầu yếu và xu hướng lên có thể sắp sửa kết thúc. Giá giảm thường là từ một vị trí không có người mua, sự duy trì áp lực mua cần thiết để giữ vững xu hướng lên. Do đó, một doji có thể có nghĩa hơn sau một xu hướng lên hoặc một giá đỡ trắng dài. Kể cả sau khi một doji hình thành, hướng xuống tiếp sau đó cần thiết cho việc xác nhận giảm giá.

Sau một đợt giảm giá hoặc một giá đỡ đen dài, một doji chỉ rằng áp lực bán có thể giảm bớt và xu hướng xuống có thể sắp chấm dứt. mặc dù người mua đang bắt đầu một quyền kiểm soát giá giảm, cần có thêm mua mạnh để xác định một đảo hướng .

Trước khi chuyển qua các mẫu giá đỡ đảo hướng, có một vài nguyên tắc chung cần tìm hiểu.


2.3 Reversal Patterns (Các mẫu đảo hướng)


2.3.1 Prior Trend (xu hướng trước đó)


Đối với một mẫu đủ điều kiện coi nhu một mẫu đảo hướng, cần có một xu hướng trước đó để đảo hướng. Đảo hướng tăng giá cần một hướng xuống trước đó và đảo hướng giảm giá cần một hướng lên trước đó.


2.3.2 Long Shadow Reversals (đảo hướng bóng dài)

Có hai cặp mẫu đảo hướng giá đỡ đơn hình thành bởi một thân nhỏ, một bóng dài và một bóng ngắn hoặc không có. Bóng dài cần dài ít nhất bằng hai lần thân, thân có thể là trắng hoặc đen. Vị trí của bóng dài và động thái giá trước đó quyết định sự phân loại.

Cặp đầu tiên, cái búa (hammer) và người bị treo (hanging man), với một thân nhỏ và bóng dài bên dưới. Cặp thứ hai, sao băng (shooting star) và búa ngược (inverted hammer), với một thân nhỏ và bóng trên dài. Động thái giá trước đó và thông tin thêm nữa quyết định bản chất tăng giá hoặc giảm giá của giá đỡ. Cái búa và búa ngược hình thành sau một giảm giá và là mẫu đảo hướng tăng giá, trong khi một sao băng và người bị treo hình thành sau một tăng giá và là mẫu đảo hướng giảm giá.


2.3.3 Hammer and Hanging Man (Cái búa và người bị treo )

Chiếc búa và người bị treo hoàn toàn giống nhau, nhưng có khác nhau dựa vào động thái giá trước đó. Cả hai có thân nhỏ (đen hoặc trắng), bóng dưới dài và bóng trên ngắn hoặc không có. Như với hầu hết việc hình thành giá đỡ đơn hoặc đôi, chiếc búa và người bị treo cần xác định động thái trước đó.

Chiếc búa là một mẫu đảo chiều tăng giá mà nó hình thành trong một xu hướng đi xuống. Nó được gọi như vậy vì thị trường đang bị ép xuống đáy. Sau một đợt giảm giá, chiếc búa báo hiệu một sự hồi phục tăng giá. Mức thấp của bóng dưới dài hàm rằng người bán đã điều khiển giá thấp hơn trong phiên giao dịch. Tuy nhiên, phần cuối mạnh chỉ rằng người mua giành lại vị trí của họ tại cuối phiên giao dịch. Trong khi điều này dường như để tác động, chiếc búa cần thêm sự xác định tăng giá. Mức thấp của chiếc búa chỉ rằng hiện còn nhiều người bán. Có thêm áp lực mua thì cần thiết trước khi hành động. Sự xác định điều này là một giá đỡ trắng dài.

Tiêu chuẩn nhận biết :

· Bóng dài khoảng hai hoặc 3 lần thân.

· Bóng trên nhỏ hoặc không có.

· Thân ở vị trí trên của cuối một kỳ giao dịch

· Màu của thân không quan trọng.

Người bị treo là một mẫu đảo hướng giảm giá mà cũng có thể đánh dấu một đỉnh hoặc mức kháng cự. Tạo thành sau một đợt tăng giá, một người bị treo báo hiệu rằng áp lực bán bắt đầu tăng. Mức thấp của bóng dưới dài xác nhận rằng người bán đẩy giá xuống trong phiên giao dịch. Mặc dù người mua đã giành lại vị trí (sự cân bằng) và điều khiển giá cao hơn vào lúc cuối, sự xuất hiện áp lực bán là cần thiết cho việc đảo hướng. Như với chiếu búa, một người bị treo cần sự xác nhận giảm giá trước khi hành động. Sự xác định chính là một giá đỡ đen dài

Tiêu chuẩn nhận biết :

· Một bóng dưới dài khoảng 2 hoặc 3 lần thân.

· Bóng trên nhỏ hoặc không có

· Thân tại vị trí trên của cuối kỳ giao dịch

· Màu của thân không quan trọng, dù vậy một thân đen thì giá giảm hơn một thân trắng.

2.3.4 Inverted Hammer and Shooting Star (Búa ngược và sao băng)

Một búa ngược và sao băng giống như nhau, nhưng có khác nhau dựa vào bạn đang trong xu hướng xuống hay xu hướng lên. giá đỡ có thân nhỏ (trắng hoặc đen), bóng trên dài và bóng dưới không có hoặc ngắn. Các giá đỡ này chứng tỏ tiềm năng đảo hướng, nhưng cần sự xác định trước khi giao dịch.

Sao băng là một đảo chiều giảm giá, Nó xảy ra trong một xu hướng lên, nó chỉ rằng giá mở tại mức thấp của nó, củng cố lại và đẩy lùi xuống đáy. một sao băng có thể chứng tỏ một tiềm năng đảo hướng hoặc mức kháng cự. Kết quả giá đỡ có một bóng trên dài và thân đen hoặc trắng nhỏ. Sau một đợt tăng giá lớn (bóng trên), khả năng của người bán để đẩy giá xuống xuất hiện. Để biểu thị một đảo hướng đáng kể, bóng tên cần dài và ít nhất bằng 2 lần thân. Sự xác định giảm giá cần thiết sau một sao băng và có thể xác định nhờ sự hình thành một giá đỡ đen dài.

Một búa ngược hoàn toàn giống một sao băng, nhung xảy ra sau một xu hướng xuống. Búa ngược chỉ khả năng của đảo hướng của hướng xuống. Sau một đợt giảm giá, bóng trên dài chỉ áp lực mua và giá đóng tại mức cao tạo ra bóng trên dài. Bởi vì sự thất bại này, sư xác định tăng giá cần thiết trước khi giao dịch. một búa ngược theo sau là một giá đỡ trắng dài có thể thực hiện vai trò sự xác định tăng giá.

Chương I : Các kiểu biểu đồ

Chương I : Các kiểu biểu đồ

by Forex Gump


Let’s take a look at the three most popular types of charts:

1. Line chart

2. Bar chart

3. Candlestick chart


1.1 Line Charts (biểu đồ đường kẻ đơn)

Một biểu đồ đường kẻ đơn nối từ Một điểm giá đóng (closing price) tới một điểm giá đóng kế tiếp. Khi kết hợp thành một đường kẻ đơn, chúng ta có thể nhìn thấy quá trình biến đổi giá tổng quát theo thời gian của một cặp tiền tệ.

VD: biểu đồ đường kẻ của E/U:

:

1.2 Bar Charts (biểu đồ thanh)

Một biểu đồ hình thanh cũng hiển thị các giá đóng, trong khi đó đồng thời hiển thị các giá mở (opening price) cũng như giá cao (high price) và giá thấp (low price). Gốc của thanh đứng chỉ giá trao đổi thấp nhất tại thời điểm đó, trong khi ngọn của thanh chỉ giá cao nhất được trả. Vì vậy, thanh đứng chỉ khoảng giá trao đổi của cặp tiền. Nhánh ngang bên trái thanh đứng là giá mở, và nhánh ngang bên phải là giá đóng.

Biểu đồ thanh cũng được gọi là biểu đồ “OHLC” (Open, High, Low, Close) bởi vì nó chỉ ra giá mở, giá cao, giá thấp và giá đóng.

Open: The little horizontal line on the left is the opening price. Giá mở là đường ngang nhỏ bên trái

High: The top of the vertical line defines the highest price of the time period. Giá cao là đỉnh của đường đứng xác định giá cao nhất trong khoảng thời gian.

Low: The bottom of the vertical line defines the lowest price of the time period. Giá thấp là đáy của đường đứng xác định giá thấp nhất trong khoảng thời gian.

Close: The little horizontal line on the right is the closing price.Giá đóng là đường ngang nhỏ bên phải

Here is an example of a bar chart for EUR/USD:

Ghi chú: Một thanh là một khoảng thời gian; có thể là 1 ngày, 1 tuần hoặc 1 giờ…


1.3 Candlestick Charts (biểu đồ giá đỡ)

Biểu đồ giá đỡ hiển thị cùng thông tin như một biểu đồ thanh, nhưng theo một định dạng đồ họa đẹp hơn. Các thanh giá đỡ vẫn chỉ khoảng giá cao đến giá thấp bằng một đường đứng.

Tuy nhiên, trong biểu đồ giá đỡ, một hình chữ nhật ở giữa chỉ khoảng giữa giá mở và giá đóng. Theo thông tục, nếu hình chữ nhật được làm đầy hoặc có màu thì giá đóng thấp hơn giá mở.

Trong ví dụ bên dưới, màu đen là được làm đầy. đối với hình chữ nhật đen, đỉnh của chữ nhật là giá mở và đáy là giá đóng. Nếu giá đóng cao hơn giá mở thì chữ nhật sẽ trắng hoặc không màu.

Chúng ta không muốn sử dụng các giá đỡ trắng và đen. Chúng ta cảm thấy dễ nhìn hơn với đồ thị màu.

Chúng ta thay thế màu xanh cho trắng và màu đỏ cho đen. Có nghĩa là nếu giá đóng cao hơn giá mở thì màu xanh. Nếu giá đóng thấp hơn giá mở thì màu đỏ. Trong các phần sau bạn sẽ thấy cách sử dụng giá đỡ xanh và đỏ sẽ cho phép bạn nhìn biểu đồ nhanh hơn, như nhìn thấu xu hướng lên hoặc xuống và các điểm có khả năng đảo hướng.

Here is an example of a candlestick chart for EUR/USD. Isn’t it pretty?

Mục đích của đồ hình giá đỡ hoàn toàn là phục vụ cho việc quan sát, bởi vì các thông tin hiển thị giống như biểu đồ thanh OHLC. Ưu điểm của biểu đồ giá đỡ là :

· Các giá đỡ dễ hiểu và thuận tiện đối với người mới bắt đầu để tính toán phân tích đồ thị

· Các giá đỡ dễ sử dụng. Mắt của bạn sẽ thích ứng nhanh chóng với các thông tin trong ký hiệu thanh

· Các giá đỡ và các mẫu giá đỡ có tên dễ nhớ; chẳng hạn như sao băng (shooting star)

· Các giá đỡ thì thuận tiện cho việc xác định các điểm điều chỉnh của thị trường – các

đảo hướng từ một xu hướng tăng thành một xu hướng giảm hoặc ngược lại.

Bây giờ bạn đã biết tại sao các giá đỡ rất hay và chúng ta sẽ sử dụng biểu đồ giá đỡ cho hầu hết các ví dụ về sau.


Tóm tắt :

· Có 03 loại biểu đồ :

1. biểu đồ đường đơn

2. biểu đồ thanh

3. biểu đồ giá đỡ

· Từ bây giờ chúng ta sẽ sử dụng biểu đồ giá đỡ.

HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG MARKETIVA


HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG MARKETIVA



-Giao diện của Marketiva


Hãy xem bảng tỷ giá, bạn cần biết một số khái niệm sau :

o Last : giá mua/bán mới nhất

o Bid : là giá bán ra hiện tại (sell)

o Offer : là giá mua vào vào hiện tại (buy)

o Low: giá thấp nhất trong ngày

o Change : khoảng chênh lệch giữa giá hiện tại so với giá đầu ngày.

Để mở một giao dịch mua (long) hoặc bán (short) thực hiện như sau :

o Click chuột vào giá mua (offer) để đặt lệnh mua (long, buy order) hoặc giá bán (bid) để đặt lệnh mua/bán;

o Xuất hiện cửa sổ Send Order, chọn các thông số để xác định các giá trị của giao dịch cần đặt.

Instrument : là chọn cặp tiền tệ muốn bán hoặc mua

Price: giá muốn mua hoặc bán (không thể thay đổi khi chữ Price TypeMarket)

Duration: thời gian lệnh chờ được thực hiện, nếu quá khoảng thời gian đó thì lệnh không còn hiệu lực

Quantity: số lượng cần mua hoặc bán, do đòn bẩy là 100 nên $1 tuong ứng với Quantity là 100

Exit Stop Loss : giới hạn lỗ, nếu có thông số này khi giá thị trường không biến động theo đúng hướng bạn muốn, giao dịch sẽ tự động đóng lại khi giá bằng với giá đặt trong Exit Stop Loss và như vậy bạn bị lỗ ít hơn. Bạn cũng có thể dùng thông số này trong chiến thuật Trailing Stop.

Desk: loại tiền mà bạn muốn sử dụng để giao dịch, trong đó Vitual trading là tiền ảo, Live trading là tiền thật

Buy/Sell: chọn lệnh Mua hay Bán

Price Type: kiểu lệnh. Market : lệnh thị trường, giao dịch được mở theo giá thực tế của thị trường. Limit : lệnh giới hạn, cái này tui chưa xài. Stop : lệnh dừng, giao dịch tự động mở khi giá bằng giá trong Price.

Duration Type: giới hạn hoạt động của lệnh. Good till cancelled : khi nào bạn hủy lệnh (cancel) thì lệnh mới hết hiệu lực. Good till Date : lệnh chờ có hiệu lực đến ngày qui định trong Duration. Immediate or Cancel : giao dịch được mở ngay lập tức hoặc nếu không mở được ngay theo các yêu cầu đề ra thì hủy bỏ.

Quantity Type : nếu chọn Full chỉ mở khi có giá và số lượng đúng với lệnh yêu cầu .

Partial : khi không đủ số lượng với giá yêu cầu giao dịch vẫn được mở từng phần một cho đến khi đủ số lượng yêu cầu.

Exit Target : giới hạn lợi nhuận, khi giá đạt đến giá trị này giao dịch tự động đóng.

Text : các chú thích hoặc thỏa thuận, chỉ dùng khi bạn muốn mua bán trao đổi với kiểu 2 bên thỏa thuận về giá và số lượng

Các lệnh trong Order : trong Order chứa các lệnh đặt được đặt

Các giao dịch trong Positions :

Thay đổi thông số cho các giao dịch trong Positions :

Sau khi nhấn nút Change sẽ xuất hiện cửa sổ Change Position cho phép thay đổi các thông số giới hạn lỗ, giới hạn lợi nhuận.

Thay đổi thông số cho các lệnh trong Order : thực hiện tương tự đối với các giao dịch trong Position

- Thay đổi trên đồ thị :

Thay đổi cặp tiền tệ :

o Nhấp phải chuột trên vùng đồ thị

o Chọn Currency Pair -> chọn cặp tiền tệ muốn xem

Thay đổi khung thời gian :

o Nhấp phải chuột trên vùng đồ thị

o Chọn Timescale -> chọn khung thời gian

Thay đổi kiểu đồ thị :

o Nhấp phải chuột trên vùng đồ thị

o Chọn Style ->chọn ki_u đồ thị

Thêm vào các công cụ dự báo :

o nhấp phải chuột trên vùng đồ thị

o chọn Indicators -> chọn công cụ dự báo

o Hiệu chỉnh các thông số. VD : số khoảng thời gian (period), màu …

o chọn Remove this indicator để bỏ công cụ dự báo

_ Thoát khỏi Marketiva: